Mệnh là gì?
Chữ Mệnh (命) bao gồm:
– Bộ Khẩu (口) là cái miệng, lời nói…
– Chữ Lệnh (令) là ra lệnh, ban lệnh, chỉ thị, sai khiến… trong đó có bộ Tiết (卩) là hình ảnh người đang quỳ gối tiếp nhận.
Mệnh lệnh là điều ban xuống mà ta phải tiếp nhận…
Sinh mệnh là sự sống được ban cho…
Thiên mệnh là lệnh trời, ý trời…
Định mệnh là điều ta không thể thay đổi…
Vận mệnh là thử thách hoặc vận may ta không có quyền lựa chọn…
Mệnh là những điều được định sẵn, được ban cho… đó là cái bẩm sinh, là tố chất, phẩm chất, năng lực, tính cách… Hiểu Mệnh là làm tròn bổn phận, biết sứ mệnh của mình…
Thân là gì?
Chữ Thân (身) có nghĩa là thân thể, bản thân, lập thân, dấn thân, tu thân… Thân là phần chịu tác động, cũng là phần thể hiện ra bên ngoài… là phương tiện thực thi, là hành động thực tế…
Mệnh là cái ta nhận, Thân là cái ta làm.
Mệnh là bị động, Thân là chủ động.
Mệnh là bẩm sinh, Thân là tu dưỡng.
Mệnh là khả năng, Thân là định hướng.
…
Một cái là tố chất, phẩm chất được ban… Một cái là thực thi, thực hành…
Thân không phải chỉ là mỗi thân thể…
Mệnh mạnh mà Thân yếu thì năng lực khó thể hiện ra đời. Ngược lại, Mệnh yếu mà Thân mạnh thì hành động nhiều mà thiếu chiều sâu nội tại. Hoặc Mệnh yếu mà Thân mạnh thì có khát khao nhưng khả năng có hạn…
Ngoài ra, cung Thân không phải chỉ là sau 30 tuổi, và cung Mệnh cũng không phải chỉ là trước 30 tuổi.
Mối quan hệ giữa Mệnh và Thân…
Mệnh được an như sau: Bắt đầu từ cung Dần là tháng Giêng, đếm theo chiều thuận đến tháng sinh, ngừng tại cung nào gọi là giờ Tí, đếm theo chiều nghịch đến giờ sinh, ngừng tại cung nào an Mệnh ở cung đó.
Thân được an như sau: Bắt đầu từ cung Dần là tháng Giêng, đếm theo chiều thuận đến tháng sinh, ngừng tại cung nào gọi là giờ Tí, đếm theo chiều thuận đến giờ sinh, ngừng tại cung nào an Thân ở cung đó.
Mệnh và Thân luôn đối xứng qua trục được tạo bởi điểm dừng của tháng (điểm khởi của giờ). Với một phép toán “thuận – nghịch” (đếm giờ), lá số đã tách con người ra làm hai phần: Mệnh và Thân.
Ngoài các vị trí đối xung qua tâm địa bàn (lục xung), Tử Vi còn dựa trên các vị trí đối xứng qua chính các trục lục xung đó.
Vì luôn đối xứng qua một trục nên Mệnh và Thân chỉ có thể đồng cung hoặc cách nhau số cung là 1, 3, 5… (tức là cách nhau số lẻ) và không bao giờ cách nhau số chẵn hoặc giáp nhau. Ngay cả với tất cả các chính tinh, phụ tinh luôn đối xứng qua một trục cũng vậy. Quy tắc này khiến cho cung Thân không bao giờ an ở hai cung giáp Mệnh là Phụ Mẫu và Huynh Đệ, cũng không thể ở các cung Điền, Nô, Tật, Tử (vì cách cung Mệnh số chẵn).
Khoảng cách từ điểm khởi (giờ Tí) đến giờ sinh sẽ quyết định vị trí giữa Mệnh và Thân trên địa bàn.
Nếu sinh giờ Tí, Ngọ: Mệnh và Thân đồng cung thì con người sống trọn với cái mình vốn là, không rời xa bản chất. Ta sinh ra mang bản chất nào, tính cách nào, năng lực nào… thì sống đúng như bản chất ấy đến tận cùng, không thay đổi, không rẽ ngang… Cái “ta là” và cái “ta làm” cùng là một… là người sống nhất quán, tính cách và năng lực thế nào thì hành động thế ấy, ít có sự mâu thuẫn… tốt ra mặt, xấu ra mặt… Nếu được ban cho tư chất tốt thì lại càng khuếch đại… Hoặc ngược lại…
Nếu sinh giờ Mão, Dậu: Mệnh và Thân đối xung thì con người dễ có sự đối lập, mâu thuẫn… nhưng linh hoạt, uyển chuyển… Nhất là khi rơi vào các cặp sao luôn đối xung… Như là Mệnh Phủ Thân Sát hoặc Mệnh Sát Thân Phủ… Và Mệnh Tướng Thân Phá hoặc Mệnh Phá Thân Tướng… Thân cư Di thì dấn thân vào xã hội… hoặc có thể là lập thân ở một nơi khác… Đó là tự chủ nếu bản chất (Mệnh) mạnh… nhưng dễ lạc lối nếu bản Mệnh yếu…
Nếu sinh giờ Dần, Thân, Thìn, Tuất: Mệnh và Thân tam hợp ở Mệnh Tài Quan thì tính cách, năng lực, suy nghĩ, hành động… tập trung vào các cung sự nghiệp, tích lũy tài sản và nâng cao địa vị. Hoặc ví dụ như Mệnh Thân cùng trong bộ Sát Phá Tham càng phát huy sự quyết liệt và bứt phá của bộ sao này…
Tóm lại, tùy thuộc vào khoảng cách và vị trí của cặp Mệnh Thân, ta phân ra các cách cục như: Mệnh Thân đồng cung, Mệnh Thân đối xung, Mệnh Thân tam hợp… Thân cư Phúc thì Mệnh Thân giáp 2 bên Phụ Mẫu (sinh giờ Sửu, Mùi). Thân cư Phối thì Mệnh Thân giáp 2 bên Huynh Đệ (sinh giờ Tị, Hợi). Mỗi thế đối xứng của Mệnh và Thân cho biết mối quan hệ giữa tính cách, năng lực… và sự nghiệp, duyên phận…
Nói về một số cặp sao đối xứng…
Các sao trong địa bàn cũng không nằm ngoài quy tắc đối xung, đối xứng… Do đó, không có gì đứng một mình, ngay cả các sao cũng có cặp có đôi. Cặp Mệnh Thân mà lại khớp với cặp sao đôi thì cũng càng phát huy tính chất của cặp sao đó.
Các sao đôi cũng được xác định bằng một trục đối xứng trên địa bàn…
Địa Không đi thuận, Địa Kiếp đi nghịch. Phép toán “thuận – nghịch” (đếm giờ) từ giờ Hợi đến giờ sinh tạo ra cặp Không Kiếp luôn đối xứng qua trục Tị Hợi.
Thiên Hư đi thuận, Thiên Khốc đi nghịch. Phép toán “thuận – nghịch” (đếm năm) từ năm Ngọ đến năm sinh tạo ra cặp Hư Khốc luôn đối xứng qua trục Tí Ngọ.
Mệnh Không Thân Kiếp… hoặc Mệnh Kiếp Thân Không thì sao?
Kiếp (劫) là sự cướp đoạt bằng vũ lực, trấn áp, ép buộc… đi cướp hoặc bị cướp lại… Mệnh Kiếp thì táo bạo, liều lĩnh… Thân Không thì khó có thành quả.
Mệnh Không Thân Kiếp thì tính cách khác biệt, có lối đi riêng, có tính sáng tạo, sắc sảo… Thân Kiếp thì thân mang tai kiếp, phải trải qua thử thách, hành động khác thường, khó kiểm soát…
Nếu hãm địa thì khó tận dụng được khả năng, phải cực thân, dễ phá… Nếu đắc địa thì mưu trí, dễ có thành quả hơn… Và phải xét thêm Thân ở tam hợp, đối cung hay ở cung vị cụ thể nào khác… và đi cùng các sao nào khác…
Và còn Mệnh Khốc Thân Hư… hoặc Mệnh Hư Thân Khốc…
Khốc là khóc lóc, đa sầu, đa cảm… Hư là hư vô, hư ảo, hư nhược… Nếu đắc địa lại khiến cho lời nói thêm đanh thép, là hư trương thanh thế…
Trong các lục sát tinh thì Kình Đà không có nhiều biến thể như các sát tinh khác. Vì Kình Đà luôn bắt nguồn từ (giáp) Lộc Tồn (của cải, tài sản, di sản, kế thừa…). Mệnh Kình Thân Đà hay Mệnh Đà Thân Kình chỉ rơi vào hai vị trí, Thân cư Phúc hoặc Thân cư Phối…
Đối với các cặp cát tinh:
– Cặp Tả Hữu (đếm tháng: Tả đi thuận, Hữu đi nghịch) luôn đối xứng qua trục Sửu Mùi.
– Cặp Khúc Xương (đếm giờ: Khúc đi thuận, Xương đi nghịch) luôn đối xứng qua trục Sửu Mùi.
– Cặp Long Phượng (đếm năm: Long đi thuận, Phượng đi nghịch) luôn đối xứng qua trục Sửu Mùi.
Và còn Tam Đài Bát Toạ (an theo Tả Hữu), Ân Quang Thiên Quý (an theo Xương Khúc)… cũng luôn đối xứng qua trục Sửu Mùi.
Trục Sửu Mùi phân chia hai nửa của Nhật Nguyệt. Dương Âm luôn đối xứng qua trục Sửu Mùi. Và thường gắn liền với nhận định “chính không bằng chiếu, chiếu không bằng giáp”. Vì đồng cung là sự “tranh huy” của hai nửa Dương Âm tại Sửu Mùi. Cùng một không gian nhưng sáng tối giao thoa, giao thời, giao tranh… khiến cho người ta ở trạng thái chập chờn, lưỡng lự… hoặc các mối quan hệ phức tạp… Cho nên thích được Tuần Không đóng tại cung đó. Nhưng giáp Nhật Nguyệt thì như được cả ánh sáng và bóng tối che chở. Nhất là lại được cả Tả Hữu trợ lực từ hai cánh…