Miếu Vượng Đắc Hãm của chính tinh trong Tử Vi

MỤC LỤC

(Viết tắt: M-V-Đ-H = miếu-vượng-đắc-hãm)

 

Trước hết, cơ sở ban đầu và dễ thấy nhất là Nhật Nguyệt. M-V-Đ-H của Nhật Nguyệt phụ thuộc vào vị trí cung ngày và cung đêm. Do đó, xét Nhật Nguyệt rồi mới xét các chính tinh khác.

 

Thái Dương nhập miếu ở cung/giờ Tị Ngọ, vượng địa ở Mão Thìn Dậu. Vì Mặt Trời mọc ở phía đông (cung/giờ Mão)… gay gắt nhất ở cung/giờ Ngọ… và qua cung/giờ Dậu bắt đầu lặn ở phía tây. Đây là chiều thuận (chiều kim đồng hồ) của địa bàn khi quan sát Mặt Trời mọc/lặn… Còn Thái Âm miếu-vượng ở nửa còn lại của địa bàn, đối xứng với Thái Dương qua trục Sửu Mùi tạo thành trục phân định Âm Dương. Âm Dương đồng cung tại Sửu Mùi thì chỉ có thể đắc địa. Thái Dương ở cung đêm thì hãm địa. Thái Âm ở cung ngày thì hãm địa.

 

Nhật Nguyệt tác động đến M-V-Đ-H của các chính tinh…

 

Đối với các chính tinh khác, M-V-Đ-H luôn phải xét bằng 2 chính tinh theo vị trí đồng cung hoặc đối xung. Nếu không phải đồng cung mà là đơn thủ thì phải xem ở đối cung có gì. Tức là, thế đối xung có mối liên hệ mạnh mẽ không thua kém đồng cung. Nhưng 2 trường hợp có sự khác biệt. Khác như thế nào?…

 

Ví dụ:…

 

Cự Môn đồng cung Thái Dương thì phụ thuộc vào Thái Dương mà xét. Thái Dương phải sáng thì Cự Môn mới sáng được. Ánh sáng của Thái Dương giúp Cự Môn không còn mờ ám. Thái Dương hãm địa thì Cự Môn chỉ có thể đắc địa mà thôi.

 

Nhưng ở thế đối xung thì lại khác. Cự Môn không thích ánh sáng của Thái Dương xung chiếu ở đối cung. Vì làm “phơi bày” cái mờ ám của Cự Môn, bị “phơi bày” nên mới sinh ra thị phi, drama… làm cho Cự Môn hãm địa. Ánh sáng mà chiếu qua cửa lớn thì thấy hết thâm cung bí sử…

 

Nếu Cự Môn sợ bị “phơi bày”, thì Thiên Lương trái lại rất thích được “phơi bày”: bày tỏ, giãi bày, chia sẻ… Thái Dương chỉ cần ở đối cung thì Thiên Lương miếu-vượng. Nhưng Lương đồng cung với Dương thì 2 như 1… Dương sáng thì Lương mới sáng được. Hoặc ngược lại, Dương hãm thì Lương cũng hãm.

 

(Ta sẽ luôn có tối thiểu 2 chính tinh ở thế đối xung. Nếu một cung VCD (vô chính diệu) thì cung đối diện luôn là 2 chính tinh đồng cung. Hoặc nếu một cung có chính tinh đơn thủ thì cung đối diện không bao giờ là VCD.)

 

Nói tiếp về Cự Môn…

 

Cự Môn phải xét theo các cặp: Cự Nhật, Cự Cơ, Cự Đồng.

 

Cự Môn ngoài việc là sao thích nói, hay nói… thì cái cần quan tâm của Cự Môn là gì?…

 

Cự Môn rất thích Thiên Cơ. Bất kể Thiên Cơ đang M-V-Đ-H ra sao, dù đồng cung hoặc đối xung thì Cự Môn luôn miếu-vượng. Cự ám mà gặp Cơ thì trở nên cơ mật, cơ mưu, ám hiệu, nói lời khôn ngoan, nói mà không để lộ sơ hở… Người ta rước hoạ cũng chỉ vì nói điều không nên nói, không giữ mồm giữ miệng… Ngọc ẩn trong đá mới là ngọc… Nhưng ví dụ như gặp thêm Hoả Tinh thì lại khó kiểm soát được ngôn từ của mình, cái miệng hại cái thân… Hoặc gặp thêm Kình, Kiếp… Hoặc có kẻ nhân thời cơ…

 

“Thạch trung ẩn ngọc” là Cự Môn đơn thủ ở Tí Ngọ, tức là Cự Cơ đối xung. Ở Tí tốt hơn ở Ngọ vì Nhật Nguyệt sáng. Cự Môn thích Hoá Lộc để lời nói có thể sinh lợi, miệng lưỡi từ chỗ dễ gây hoạ sẽ biến thành công cụ kiếm tiền. Cự Môn đơn thủ bị đánh giá là nói nhiều, dễ mất lòng… cho nên có Tuần Triệt cũng tốt… để cái miệng “không đi chơi xa”… lời thốt ra lại sáng suốt như viên ngọc trước sáng vậy…

 

Còn cặp Cự Đồng thì sao?

 

Cự Môn và Thiên Đồng thì không nên gặp nhau. Bất kể đồng cung hoặc đối xung thì cả 2 đều hãm địa. Tại vì sao?…

 

Sao Thiên Đồng thì chữ Đồng (同) có nghĩa là hội ý: hội đồng, cộng đồng, đồng tình… chứ không phải nhi đồng (童). Cho nên Thiên Đồng cũng là sao chủ về giao tiếp, kết nối… Thiên Đồng hãm địa chủ về thị phi, kiện cáo… Nếu Thiên Đồng mà lại gặp Cự Môn ưa thị phi thì lại thành BẤT ĐỒNG…

 

Thiên Đồng là đồng tình, đồng ý, đồng phạm, thông đồng… cho nên sao đồng cung phải sáng thì Thiên Đồng mới sáng được. Hoặc ngược lại… Và Thiên Đồng còn là hội đồng, cộng đồng, bao đồng… cho nên không thích đứng một mình, cứ đơn thủ thì đắc-hãm.

 

Còn chi tiết hơn nữa để phân biệt giữa đắc địa với hãm địa thì lại xem tiếp ở đối cung có gì và đang M-V-Đ-H ra sao…

 

Các trạng thái miếu, vượng, đắc, bình, hãm… còn có những cách gọi khác chẳng hạn như là miếu, vượng, bình, nhàn, hãm…

 

Nhưng tạm chia ra như sau:

miếu-vượng = đẹp

đắc-bình-hãm = bình thường, xấu

 

Thiên Đồng cũng chủ về tính cách thất thường và vui vẻ nên mới được ví như đứa trẻ… gặp thêm Hỉ Thần càng rõ tính chất…

 

Thiên Lương thích đồng cung với Cơ/Đồng nhưng không thích đối xung với Cơ/Đồng. Đồng cung thì miếu-vượng, còn đối xung thì đắc-hãm…

 

Vì Thiên Đồng còn chủ về may mắn nên mới là phúc tinh. Đồng Lương thì phúc thiện, phúc đức, phúc ấm, phúc thọ…

 

Cơ Lương thì trí thiện, trí đức…

 

Thiên Cơ còn là nắm bắt thời cơ, là cơ may, cơ hội… cơ hội có tốt không? cơ hội ai mang đến cho?… và còn là cơ mưu, tham mưu cho ai? quân sư cho ai?… Vì nó cũng là sao có tính phụ thuộc (giống như Thiên Đồng), bất kể sao đồng cung M-V-Đ-H ra sao thì Thiên Cơ cũng y như vậy. Còn Thiên Cơ đơn thủ mà có Thái Âm xung chiếu thì Âm sáng thì Cơ mới sáng được. Hoặc ngược lại…

 

Các sao thuộc tính âm như Cự, Cơ, Âm… đều có tính chất cơ mưu, âm mưu, mờ ám, ám muội… rất khác với tính chất của các sao thuộc tính dương như Dương, Đồng… thường không có nhiều mưu mẹo mà ở việc toả sáng và khả năng kết nối…

 

Nói về bộ Phủ Tướng…

 

Phủ và Tướng, một là tài khố, một là bầy tôi trung thành… Nhưng Phủ Tướng mang tính chất là nguồn lực, tài lực, phò trợ… tuy hậu thuẫn rất mạnh nhưng rất cần có người dùng, cho nên không thích đơn thủ. Cứ đồng cung với bất kì sao nào cũng làm cho cả 2 đều miếu-vượng.

 

Thiên Phủ là cái phủ, là tài khố, ngân khố, kho tàng… không có hãm địa, kém nhất cũng chỉ bình hoà. Thiên Phủ không thích đơn thủ, không ai trông coi, không ai quản lí, không tài trợ ai, không viện trợ ai… đơn độc, bảo thủ… Nếu đơn thủ thì đắc-bình, còn cứ đồng cung với chính tinh khác thì cả 2 đều miếu-vượng.

 

Thiên Tướng là sao phò tá đương nhiên không thích đơn thủ. Nếu đơn thủ thì đắc-hãm, còn cứ đồng cung với chính tinh khác thì cả 2 đều miếu-vượng.

 

Đời Phong Thần, vương triều nhà Ân có ông vua cực tàn ác là Trụ Vương (Phá Quân). Dưới đó có Văn Thái Sư (Thiên Tướng), là Tể Tướng kiêm Đại Nguyên Soái trung hậu và từ ái… luôn một lòng trung thành dù cho vua có tàn ác… Trong cảnh nhà Ân bị Chu đánh, Văn Thái Sư hi sinh ngay tại trận tiền…

 

Thiên Tướng đâu phải ông vua chỉ ngồi trong cung điện mà còn phải ra ngoài chiến tuyến… cũng có nghĩa là đứng ra trước chịu trận, đôi khi bị đưa vào cái thế mà bản thân không có quyền tự quyết… Thiên Tướng rất sợ sát tinh như Kình Dương đồng cung… Sợ nhất là Triệt Lộ vì không còn đường lui…

 

Còn Thiên Phủ là Khương hoàng hậu, là chính thất nguyên phối của Trụ Vương (Phá Quân). Cung Mệnh có Phá Quân thì cung Phối luôn là Thiên Phủ. Đây là người đàn bà hiền thục và tài năng. Khương hậu sau khi chết, Thái Bạch Kim Tinh đón vong hồn Khương hậu cho cai quản một tinh cầu đầy sản vật phì nhiêu là sao Thiên Phủ.

 

Nói về Liêm Trinh…

 

Liêm Trinh đại diện cho sự liêm khiết, trinh tiết, chính trực… tiên quyết không nên đồng cung với Sát Phá Tham vì sẽ bị làm cho biến chất.

 

Liêm Trinh cứ đồng cung với bất kì sao nào của bộ Sát Phá Tham thì cả 2 cùng đắc-hãm như nhau. Cho nên người ta hay gọi theo bộ 4 sao “Sát Phá Liêm Tham” khi nói đến việc 2 tam hợp Tử Vũ Liêm và Sát Phá Tham đồng cung… Và lí do bắt nguồn từ sự biến chất của Liêm Trinh… 2 bộ này mà gặp nhau thì không thể cùng nhau miếu-vượng được, vì nhìn sang cung có Liêm Trinh luôn đắc-hãm.

 

Trường hợp kém nhất là cả 6 chính tinh đều đắc-hãm. Trường hợp tốt hơn là khi 2 cung Tử Sát và Vũ Tham đều miếu-vượng, nhưng nhìn sang cung Liêm Phá (Mão/Dậu) cả 2 sao đều hãm địa. Nhóm ổn định gặp nhóm bất ổn thì phải có chỗ trắc trở…

 

Hơn nữa, cái thế “Sát Phá Liêm Tham” còn làm cho bộ Phủ Tướng bị đơn thủ, cho nên 2 nguồn lực đơn độc không phát huy tốt vai trò của mình. Phủ Tướng tốt nhất là khi đồng cung với Tử Vũ Liêm mà tạo thành cách “Tử Phủ triều viên” (vua quan hội họp). Ngoài ra, có thể phân tích thêm từ cái thế đối xứng hiện tại của địa bàn mà xét tới 2 bộ Cự Nhật và Cơ Nguyệt Đồng Lương… nếu Nhật Nguyệt sáng thì tốt hơn…

 

Liêm Sát thì độc đoán, nóng nảy, tai sát…

Liêm Phá thì mất mát, sai phạm…

Liêm Tham thì dục vọng, đào hoa, tham nhũng…

 

“Liêm Sát Sửu Mùi, thượng lộ mai thi.”

“Liêm Trinh Mão Dậu cung gia sát, công tư vô diện quan nhân.”

“Liêm Tham Tị Hợi, nam lãng đãng nhi nữ dâm, hình khắc chí trọng, song phương quân chủ phong lưu, tảo luyến, ngoại ngộ, vô sát dã dị li dị.”

 

Liêm Trinh chỉ cần không đồng cung với Sát Phá Tham thì giữ được phẩm hạnh của bản thân mình mà miếu-vượng.

 

Liêm Trinh là sao dò xét, soi xét, giám sát…

 

Phá Quân đơn thủ mà có Liêm Tướng ở đối cung giám sát thì mới không phạm sai lầm, như vậy lại có thể nhập miếu.

 

Nhưng Thất Sát đơn thủ có Liêm Phủ xung chiếu thì Thất Sát rơi vào thế hãm địa, 1 phải chịu 2… Vì Liêm là dò xét… Liêm Phủ là gò bó… bị kiểm soát, hào khí của Thất Sát bị che phủ…

 

Thất Sát là nhân vật Hoàng Phi Hổ (Phong Thần Bảng). Ông đánh trận rất hăng thu được nhiều thắng lợi lớn. Nhưng cuối cùng Hoàng Phi Hổ chết thảm trong trận Mẫn Trì. Thái Bạch Kim Tinh đón vong hồn về cai quản sao Thất Sát và phong làm thần chiến tranh chuyên coi việc sát phạt.

 

Thất Sát là vị tướng lĩnh ngoài chiến trường… “Thất Sát lâm Thân” thì hành động quả quyết, thậm chí chẳng màng bản thân… Nếu rơi vào thế hãm địa, thế mai phục… liệu có còn đường lui? Gặp Kình, Kiếp… càng thêm mù quáng. Gặp Khôi Việt gặp được quý nhân.

 

(Cung có 2 chính tinh tác động rất mạnh mẽ vào cung chỉ có 1 chính tinh đơn thủ hoặc cung VCD. Cho nên VCD mới có khái niệm “mượn” chính tinh cung đối diện. Sự “mượn” ở đây không phải là lấy bên kia mang sang bên này làm cho bên kia thiếu mất, mà có thể hiểu là bị bên ngoài chi phối rất lớn nên phải nhìn vào đối cung mà xét… Đây là bị phụ thuộc chứ không được tự chủ, phải đi nương nhờ, phải quy thuận bên ngoài, bên đó ra sao thì bên này phải theo vậy… Cho nên VCD bản chất vẫn là không thể tự đứng vững… Nhưng nếu Thân cư ở đối cung thì cũng là nương nhờ vào chính bản thân mình… Và khi đó cái M-V-Đ-H ở đối cung càng quan trọng hơn.)

 

Nói về Vũ Khúc…

 

Theo Phong Thần Bảng, khi Trụ Vương (Phá Quân) bị Vũ Vương (Vũ Khúc) đem quân thảo phạt, cuối cùng hết đường chạy… Phá Quân đơn thủ rất sợ Vũ Khúc xung chiếu làm cho hãm địa.

 

Chữ Vũ (武) hoặc được đọc là “võ”. Vũ Vương là người võ dũng lại giỏi về kinh tế (cho nên Vũ Khúc vừa là võ tinh, vừa là tài tinh). Vũ Phá thì phá tài… đây là khi đồng cung thì cả 2 đều hãm địa.

 

Vũ Tham thì giỏi về kinh tế lại có tham vọng làm giàu (cách này là người giỏi kinh doanh, kinh thương…). Vũ và Tham rất hợp nhau, dù đồng cung hoặc đối xung thì cả 2 đều miếu-vượng. Tham Lang đơn thủ mà ở đối cung không có Vũ Khúc thì chỉ đắc-hãm.

 

Tuy đều là võ tinh nhưng tính chất của Vũ Khúc có khác với Thất Sát. Vũ có tính âm, Sát có tính dương.

 

Vũ Khúc chế ngự được sát tinh nhỏ. Nhưng nếu sát chính tinh cỡ như Thất Sát thì cả 2 đều thua thiệt. Thất Sát hãm địa còn bản thân Vũ Khúc cũng chỉ có thể đắc địa. Vũ và Sát không nên đồng cung với nhau, nhưng đối xung thì được.

 

Nói về Tử Vi…

 

Phá Quân chẳng ngại đồng cung với Tử Vi mà còn lấn át làm cho Tử Vi bình hoà còn bản thân vượng địa. Nhưng Phá Quân đơn thủ lại e ngại Tử Vi ở đối cung có Thiên Tướng phò tá đang nhòm qua… 1 phải sợ 2…

 

Tử Vi không nên đồng cung với Tham Lang, vì rơi vào thế kém nhất là bình hoà, cái hoạ cũng từ tham ái mà ra…

 

Tử Vi mang khí chất tôn quý, không có hãm địa, kém nhất là bình hoà. Tử Vi đồng cung với Tham Lang là kém nhất. Ta có hình tượng ẩn dụ như sau… Tham Lang là Đắc Kỉ (vốn là một con hồ li), vì không quyến rũ được Bá Ấp (Tử Vi) nên sàm tấu với Trụ Vương (Phá Quân) mà hại chết Bá Ấp.

 

Tử Vi là thiên tử, là con của Nhật Nguyệt. Riêng sao Tử Vi lại xét thêm Nhật Nguyệt. Tử Vi ở Tị Ngọ thì Nhật Nguyệt sáng nên nhập miếu. Nhưng ở Tí Hợi thì Nhật Nguyệt hãm nên bình hoà.

 

Thất Sát lại rất hợp Tử Vi, gặp được Tử Vi thì Thất Sát thành bảo kiếm, thành gươm báu… bất kể Tử Vi đồng cung hay ở đối cung thì Thất Sát đều miếu-vượng.

 

Tử Vi cũng là sao ưa bí mật, tức là kín đáo… vì giống như trong đánh cờ, vua rất sợ bị chiếu bí… Ngoài ra còn là huyền bí… như bộ môn đang được gọi bằng chính cái tên ấy.

Chia sẻ:
Facebook
Bài viết liên quan

Mệnh là gì?   Chữ Mệnh (命) bao gồm: – Bộ Khẩu (口) là cái miệng, lời nói… – Chữ Lệnh (令) là ra lệnh, ban lệnh, chỉ thị, sai khiến… trong đó có bộ Tiết (卩) là hình ảnh người đang quỳ gối tiếp nhận.   Mệnh lệnh là...

Đầu tiên là nói về Ngũ Hổ Độn…   Can của 12 tháng được xác định như sau: – Năm sinh Giáp/Kỉ khởi ở cung Bính Dần. – Năm sinh Ất/Canh khởi ở cung Mậu Dần. – Năm sinh Bính/Tân khởi ở cung Canh Dần. – Năm sinh Đinh/Nhâm khởi...

Tại sao Tử Vi dùng biểu tượng các sao mà không phải những biểu tượng khác?   Tử Vi là sự giao thoa giữa khoa dự đoán và thiên văn. Và các sao an vào địa bàn là sự “vay mượn” để đưa nhân sinh quan vào lá số. “Vay...

Giác quan của con người là những bộ lọc hữu hạn. Thị lực, thính lực, xúc giác,… đều có ngưỡng trên và ngưỡng dưới. Thực tại mà ta trải nghiệm hàng ngày chỉ là một phiên bản rút gọn của thế giới khách quan, được chọn lọc và giới hạn...

NỔI BẬT
Theo dõi chúng tôi trên MXH:
Liên hệ:
contact.hbth@gmail.com
© 2023 hatbuitamhon. All rights reserved.
Scroll to Top