Đẩu số và những quan sát thiên văn… Nguồn gốc của Lục Thập Hoa Giáp?

MỤC LỤC

Tại sao Tử Vi dùng biểu tượng các sao mà không phải những biểu tượng khác?

 

Tử Vi là sự giao thoa giữa khoa dự đoán và thiên văn. Và các sao an vào địa bàn là sự “vay mượn” để đưa nhân sinh quan vào lá số. “Vay mượn” ở đây được hiểu như thế nào?…

 

Nói về Tử Vi Đế Tinh…

 

Sao Tử Vi là Đế Tinh, là vua của muôn sao, nó chính là sao Bắc Cực, dùng để xác định phương hướng. Đây là ngôi sao gần với cực bắc của Trái Đất nhất, nên khi nhìn từ Trái Đất, nó gần như đứng yên trong khi các ngôi sao khác di chuyển.

 

Trên bầu trời, sao Bắc Cực luôn cố định ở một vị trí và các ngôi sao khác phải xoay quanh nó. Sở dĩ sao Bắc Cực khác biệt với những sao khác là vì trục tự quay của Trái Đất gần như nhắm thẳng vào nó. Do đó, khi Trái Đất tự quay quanh trục, sao Bắc Cực nằm sát thiên cực bắc trông có vẻ như đang tĩnh tại. Do tính chất đặc biệt của sao Bắc Cực, cho nên vào ban đêm có thể dùng sao Bắc Cực để phân biệt phương hướng. Trước khi la bàn được phát minh, người xưa đi biển vào đêm tối chính là nhờ vào sao Bắc Cực để dẫn đường.

 

Xung quanh sao Tử Vi (Bắc Cực) có 7 ngôi sao tạo thành hình “cái muôi”, gọi là Bắc Đẩu Thất Tinh. Chữ “Đẩu” (斗) có nghĩa là đồ vật dùng để đong lường, để múc… đó là: cái đẩu, cái đấu, cái múc, cái muôi, cái gáo… Có 2 cái Đẩu được đưa vào môn Đẩu số, 1 là Bắc Đẩu và 1 là Nam Đẩu.

 

7 ngôi sao của Bắc Đẩu Thất Tinh có tên là:

Thiên Xu (天枢)

Thiên Tuyền (天璇)

Thiên Cơ (天玑)

Thiên Quyền (天权)

Ngọc Hoành (玉衡)

Khai Dương (开阳)

Dao Quang (摇光)

 

Nhưng trong thuật số lại gọi tên chúng tương ứng lần lượt là:

Tham Lang (贪狼)

Cự Môn (巨门)

Lộc Tồn (禄存)

Văn Khúc (文曲)

Liêm Trinh (廉贞)

Vũ Khúc (武曲)

Phá Quân (破军)

 

Sao Tử Vi ngự ở một ví trí cố định được 7 ngôi sao này chầu về, trong thời cổ đại là biểu tượng của hoàng quyền, đại diện cho quyền lực, sự uy nghiêm và sự thống trị chính thống, là trung tâm hướng về của lòng người.

 

Khu vực sao trung tâm gọi là Tử Vi Viên. Nó được ví như “Tử Cấm Thành” trên trời, nơi ở của Thiên Đế và các quan lại cao cấp. Trong đó có sao Văn Xương với tư cách là một quan chức về văn thư…

 

Bắc Đẩu Thất Tinh hình dáng như “cái muôi” trên bầu trời, “cái muôi” sẽ chuyển động xoay tròn quanh sao Bắc Cực (Tử Vi) theo sự thay đổi của bốn mùa xuân hạ thu đông. Khi chuôi muôi chỉ hướng đông, thiên hạ đều là mùa xuân. Khi chuôi muôi chỉ hướng nam, thiên hạ đều là mùa hạ. Khi chuôi muôi chỉ hướng tây, thiên hạ đều là mùa thu. Khi chuôi muôi chỉ hướng bắc, thiên hạ đều là mùa đông. Thời cổ đại, người ta dùng nó để quan sát sự thay đổi của bốn mùa.

 

Bắc Đẩu Thất Tinh từng có 9 ngôi sao, cho nên gọi là Bắc Đẩu Cửu Tinh. Nhưng có 2 ngôi sao đã mờ dần, đó là Tả Phụ (左辅) còn gọi là Động Minh (洞明), và Hữu Bật (右弼) còn gọi là Ẩn Nguyên (隐元).

 

Có Bắc Đẩu thì sẽ có Nam Đẩu. Nhìn về bắc thì cũng phải nhìn về nam. Đối xứng với với Bắc Đẩu Cửu Tinh là Nam Đẩu Lục Tinh, cũng có hình dáng như “cái muôi”. Bắc Đẩu Cửu Tinh thuộc chòm Đại Hùng, Nam Đẩu Lục Tinh thuộc chòm Nhân Mã.

 

Nam Đẩu Lục Tinh gồm 6 sao: Thiên Phủ, Thiên Lương, Thiên Cơ, Thiên Đồng, Thiên Tướng, Thất Sát.

 

Đẩu số vay mượn danh nghĩa của các ngôi sao thực này, nhưng thứ phát minh ra lại là một hệ thống tinh tú hư ảo. Người xưa vay mượn hình ảnh các tinh tú như là biểu tượng để mã hoá những quy luật vận hành của đời người.

 

Trong những nỗ lực nhằm tìm ra trật tự trong sự hỗn độn của tự nhiên và cuộc đời, các “hư tinh” được vay mượn trên lá số chính là việc đúc kết các nguyên mẫu tâm lí, các hoàn cảnh điển hình… vào trong những biểu tượng cụ thể. Điều này giúp hệ thống hoá sự hỗn mang của đời người thành những lớp lang tinh tế và tỉ mỉ. Biến những quan sát phức tạp thành một bức tranh biểu tượng dễ chiêm nghiệm và ứng dụng…

 

Người xưa mượn hình ảnh bầu trời để vẽ ra một bản đồ tinh thần. Và lá số là sự mô phỏng vũ trụ ở khía cạnh con người. Các tinh tú trong đó được vay mượn, nhưng đều đang mô tả những trạng thái năng lượng tồn tại thực sự bên trong mỗi con người. Tức là, mượn “đại vũ trụ” để giải mã cái “tiểu vũ trụ” bên trong con người. Mỗi tinh đẩu, tinh diệu… mang một tính cách, một nguồn năng lượng cai quản nó, một thần cai quản… một thần… một tinh thần…

 

Nói về khái niệm “HỘI HỢP” và “ĐỐI XUNG”…

 

Đây là 2 thuật ngữ bắt nguồn từ thiên văn, nhưng thường được dùng trong các môn thuật số, an sao… Người xưa quan sát thiên văn rất quan tâm đến độ sáng, mờ và vị trí của các sao. Đặc biệt là khi các hành tinh thẳng hàng với nhau. Các quy luật bắt nguồn từ chu kì thẳng hàng của các hành tinh được ứng dụng vào trong lịch pháp, các môn thuật số, bói toán bằng an sao…

 

Trước hết, cần hiểu ví dụ sau…

 

Ví dụ về sự thẳng hàng của Mộc Tinh (còn được gọi là Tuế Tinh)…

 

Trong Thái Dương hệ, Tuế Tinh và Trái Đất cùng quay quanh Mặt Trời. Khi 3 hành tinh thẳng hàng nhau có 2 trường hợp:

 

1/ Nếu Trái Đất nằm giữa Tuế Tinh và Mặt Trời thì gọi là “XUNG” (nghĩa là: ĐỐI DIỆN; viết là: 冲, 衝), còn gọi là “ĐỐI XUNG”. Tức là, đứng từ Trái Đất quan sát sẽ thấy Tuế Tinh và Mặt Trời ở 2 phía đối nhau trên bầu trời, 1 ở đông và 1 ở tây (chỉ thấy lúc hoàng hôn/bình minh, còn ban đêm thì Tuế Tinh trở nên sáng nhất). Tuế Tinh “xung” Mặt Trời được gọi là “xung Nhật”.

 

2/ Nếu Mặt Trời nằm giữa Trái Đất và Tuế Tinh thì gọi là “HỢP” (nghĩa là: GIAO HỘI; viết là: 合), còn gọi là “HỘI HỢP”. Tức là, đứng từ Trái Đất quan sát sẽ thấy Tuế Tinh và Mặt Trời ở cùng 1 phía và bám rất sát nhau (chỉ thấy lúc hoàng hôn/bình minh, vì ban ngày Tuế Tinh bị ánh sáng Mặt Trời che khuất nên không thấy được).

 

Trái Đất là vị trí đứng quan sát nên luôn được lấy làm điểm gốc để xác định “hội hợp” và “đối xung”. Tóm lại, khi 2 hành tinh gặp nhau, giao nhau (trên bầu trời) ở 1 phía của Trái Đất gọi là “hội hợp”. Còn khi 2 hành tinh nằm ở 2 phía đối nhau của Trái Đất gọi là “đối xung”.

 

Khái niệm “hội hợp” và “đối xung” cũng áp dụng với các trường hợp thẳng hàng khác… tương tự với các sao Thổ, Hoả, Kim, Thuỷ…

 

Hiện tượng “hội hợp” còn gọi là sự kết hợp của các hành tinh. Vì lúc này từ Trái Đất quan sát sẽ thấy các hành tinh trùng nhau hoặc rất gần nhau. Thường thì chúng sẽ cùng nằm trong cùng 1 cung của 12 cung trên bầu trời. Do đó, khi ứng dụng trong thuật số khái niệm “hội hợp” ám chỉ các sao có mối quan hệ chặt chẽ hoặc kết hợp với nhau, ví dụ như: cùng 1 cung là hội hợp tại cung đó… còn tam hợp (三合) là nói đến hội hợp ở 3 cung…

 

Còn hiện tượng “đối xung” khi ứng dụng trong thuật số thường dùng cho các sao cung đối nhau, thường có tính chất đối lập, ví dụ như: lục xung (六冲)…

 

Nói về Tuế Tinh/Thái Tuế…

 

Trên bầu trời có một số ngôi sao sáng hơn phần còn lại. Tuế Tinh là một ngôi sao khá đặc biệt và rất sáng. Tuế Tinh sáng nhất khi ở vị trí “xung Nhật”, vô cùng nổi bật trên bầu trời đêm. Chu kì “xung Nhật” của Tuế Tinh có thể được dùng để đánh dấu 12 cung và 12 năm… Vì mỗi năm Tuế Tinh lại “xung” 1 lần. Cứ mỗi năm vị trí “xung” của Tuế Tinh lại di chuyển qua 1 cung trong 12 cung trên bầu trời đêm. Và cứ mỗi năm thời gian “xung” cũng tăng thêm 1 tháng trong 12 tháng.

 

Điều này bởi vì chu kì “xung Nhật” là cứ 399 ngày (khoảng 1 năm 1 tháng) thì Tuế Tinh lại xuất hiện và “xung” ở cung tiếp theo. Tuy nhiên, trung bình cứ 12 năm thì trong đó luôn có 1 năm không “xung” (vì cả năm đó nằm gọn trong 399 ngày).

 

Để quay được đúng 1 vòng quanh Mặt Trời, Tuế Tinh mất chính xác là 11.86 năm (nhanh hơn 12 năm một chút) cho nên dẫn đến hiện tượng “vượt cung” (do sai số đi nhanh). Với tốc độ 11.86 năm, mỗi năm nó đi được khoảng 30.35° thay vì 1 cung 30° chẵn. Phần dư này tích luỹ lại, khiến cứ sau khoảng 85 năm, vị trí “xung” của Tuế Tinh sẽ vượt quá (bỏ qua 1 cung) trong hệ thống 12 cung cố định. Cho nên về lâu dài nếu dùng để đánh dấu 12 cung sẽ không hoàn hảo.

 

Do đó, để thuận tiện cho việc ứng dụng thuật số, người xưa đã sáng tạo ra sao Thái Tuế (một ngôi sao hư ảo) và còn gọi nó là “cái bóng” của Tuế Tinh.

 

Thái Tuế “xung” đều đặn qua các năm, và hàng năm Thái Tuế tiến thêm đúng 1 cung tương ứng với Con Giáp của năm đó. Năm hạn đó là Con Giáp gì thì an Lưu Niên Thái Tuế ở cung đó. Thái Tuế được coi là ông vua cai quản cho năm đó. Đối với Thái Tuế an theo Con Giáp của năm sinh cũng vậy…

 

Nói về TAM HỢP và ĐẠI CHU KÌ 60 NĂM…

 

Người xưa dựa vào chu kì thẳng hàng của các hành tinh để xác định các mốc thời gian của vũ trụ, đặc biệt là các chu kì có tính ổn định. Đó là chìa khoá để tìm ra quy luật vận hành chung của vũ trụ bao la, và xem mình đang đứng ở giai đoạn nào của vòng lặp đó.

 

Trong những thời điểm rất sáng của Tuế Tinh (Mộc Tinh), có một số thời điểm quan sát sẽ thấy xuất hiện một ngôi sao gần cạnh cùng sáng rõ, đó là Thổ Tinh, còn gọi là Điền Tinh. Tức là, quan sát bầu trời thấy Thổ và Mộc “hội hợp” tại một cung. Đây là thời điểm Thổ và Mộc thẳng hàng với Trái Đất. Hiện tượng này cứ khoảng 20 năm lại xảy ra. Lần “hội hợp” tiếp theo luôn cách lần trước đó 1/3 của 12 cung, và qua 3 lần 20 năm (tổng là 60 năm) sẽ quay trở lại khu vực của lần “hội hợp” đầu tiên. Vậy là hoàn thành 1 vòng tròn với 3 lần “hội hợp”.

 

Bây giờ, minh hoạ hiện tượng trên vào vòng 12 cung ta có một tam giác đều (tam hợp).

 

Như vậy, 3 lần “HỢP” (tam hợp) còn được gọi là “đại hợp” của “đại chu kì” 60 năm. Nếu 12 năm là một “tiểu chu kì” để Thái Tuế đi hết 12 cung, thì 60 năm là một “đại chu kì” đánh dấu 3 cung tam hợp. Điều này có ý nghĩa rất quan trọng trong thuật số.

 

Và có thể đặt tên 60 năm “đại chu kì” của vũ trụ bằng cách ghép cặp Thiên Can và Địa Chi thành 60 cặp mà tạo thành Lục Thập Hoa Giáp.

 

“Tiểu chu kì” là chu kì “xung” trong 12 năm. “Đại chu kì” là chu kì “hợp” trong 60 năm.

 

Nếu lấy chu kì nhỏ 12 năm của 12 Con Giáp nhân với Ngũ Hành là 12×5=60 năm vừa vặn với một chu kì lớn 60 năm… Ngũ hành là “ngôn ngữ” trung gian trong mối quan hệ của cái lớn và cái nhỏ…

 

12 Con Giáp đánh số từ 1 đến 12 có 6 lẻ (dương), 6 chẵn (âm), cùng với Ngũ Hành… lại có sự đồng điệu với 12 Luật Lữ cũng được đánh số và chia thành 6 lẻ (dương) gọi là Lục Luật, 6 chẵn (âm) gọi là Lục Lữ, cùng với Ngũ Âm (Cung, Thương, Giốc, Chuỷ, Vũ)… 12 Luật Lữ nhân với Ngũ Âm là 12×5=60 Nạp Âm tương ứng với chu kì 60 năm… 5 loại âm thanh cơ bản kết hợp với 12 nhịp điệu mà tạo ra “bản giao hưởng” 60 Nạp Âm… Hoặc nói theo cách khác, phải chăng người xưa sáng tác âm nhạc dựa trên quy luật của vũ trụ?…

 

Giải thích Ngũ Hành Nạp Âm…

 

“CÁCH BÁT SINH TỬ” là quy luật đã được tinh gọn, cho nên khiến người ta hay tự hỏi: Tại sao lại cách 8? Tại sao mỗi “TAM NGUYÊN” lại nạp cùng một hành cho một “tam hợp”?…

 

Điều này cần được diễn giải với chu kì “tam hợp” trong 60 năm của Mộc Tinh và Thổ Tinh…

 

Ta đã biết: 3 lần 20 năm là 3 lần “hợp” tạo thành “tam hợp” của đại chu kì 60 năm…

 

Ta có 60 cặp Can Chi lần lượt là: Giáp Tí, Ất Sửu, Bính Dần, Đinh Mão, Mậu Thìn, Kỉ Tị, Canh Ngọ, Tân Mùi, Nhâm Thân, Quý Dậu, Giáp Tuất, Ất Hợi, Bính Tí, Đinh Sửu, Mậu Dần, Kỉ Mão, Canh Thìn… cho đến cuối là Quý Hợi.

 

Bây giờ đếm 60 năm trên 12 cung…

 

Ví dụ:

– Lần “hội hợp” đầu tiên ở Giáp Tí (hành Kim).

– Lần thứ 2, từ Giáp Tí đếm tiến 20 cung (tương ứng với 20 năm)… đến cung Thân thì dừng lại nạp Kim ở Thân. Theo chiều tiến (chiều thuận) thì từ Tí đến Thân cách 8 cung (vì 20-12=8), tức là 20 năm đi được tròn một vòng 12 cung và cộng thêm 8 cung. Từ Giáp cách 8 cung là Nhâm, cho nên nạp Kim ở Nhâm Thân.

– Tương tự với lần “hội hợp” thứ 3, từ Nhâm Thân lại đếm tiến 20 cung… đến cung Thìn thì dừng lại nạp Kim ở Thìn. Theo chiều tiến thì từ Thân đến Thìn cách 8 cung (vì 20-12=8). Từ Nhâm cách 8 cung là Canh, cho nên nạp Kim ở Canh Thìn.

→ Như vậy là hoàn tất “tam hợp” hệ Kim của Thân-Tí-Thìn trong 60 năm…

 

Cứ như vậy, từ Canh Thìn lại đếm tiếp 20 cung (tương ứng với 20 năm) để nạp tiếp “tam hợp” hệ Hoả bắt đầu ở Mậu Tí… Tương tự với các hành còn lại ta sẽ nạp đủ cả 5 hành khác nhau cho bộ Thân-Tí-Thìn theo thứ tự Kim Hoả Mộc Thuỷ Thổ…

 

Nạp xong bộ Thân-Tí-Thìn (bộ Dương) lại nạp tiếp bộ Dần-Ngọ-Tuất (cũng bộ Dương) bắt đầu từ Giáp Ngọ…

 

Sau khi nạp hết Ngũ Hành cho bộ Dương thì nạp tiếp Ngũ Hành cho bộ Âm… là Tị-Dậu-Sửu và Hợi-Mão-Mùi… cho đến khi vừa vặn 60 năm. Kết quả là được toàn bộ 60 Nạp Âm như chúng ta đã biết theo thứ tự Kim Hoả Mộc Thuỷ Thổ…

 

Bản chất của Nạp Âm là nạp Ngũ Hành cho các “tam hợp”. Vì 60 năm là chu kì của “tam hợp” cho nên Nạp Âm cho 60 năm phải nạp theo “tam hợp”. Và trong mỗi “tam hợp” phải nạp cùng một hành. Đó chính là “TAM NGUYÊN”.

 

Như vậy, 12 cung có các tam hợp sau:

Thân – Tí – Thìn (Dương)

Dần – Ngọ – Tuất (Dương)

Tị – Dậu – Sửu (Âm)

Hợi – Mão – Mùi (Âm)

Mỗi bộ đều được nhân với 5 để nạp đủ 5 hành khác nhau.

 

Hoặc nếu đánh số thứ tự cho 60 năm, ví dụ: Giáp Tí (Kim) là số 1 thì Nhâm Thân (Kim) ở số 9, và Canh Thìn (Kim) ở số 17…

 

Sau khi nạp đủ 60 năm ta có kết quả:

1-2: Giáp Tí, Ất Sửu: Kim

3-4: Bính Dần, Đinh Mão: Hoả

5-6: Mậu Thìn, Kỉ Tị: Mộc

7-8: Canh Ngọ, Tân Mùi: Thổ

9-10: Nhâm Thân, Quý Dậu: Kim

11-12: Giáp Tuất, Ất Hợi: Hoả

13-14: Bính Tí, Đinh Sửu: Thuỷ

15-16: Mậu Dần, Kỉ Mão: Thổ

17-18: Canh Thìn, Tân Tị: Kim

19-20: Nhâm Ngọ, Quý Mùi: Mộc

21-22: Giáp Thân, Ất Dậu: Thuỷ

23-24: Bính Tuất, Đinh Hợi: Thổ

25-26: Mậu Tí, Kỉ Sửu: Hoả

27-28: Canh Dần, Tân Mão: Mộc

29-30: Nhâm Thìn, Quý Tị: Thuỷ

31-32: Giáp Ngọ, Ất Mùi: Kim

33-34: Bính Thân, Đinh Dậu: Hoả

35-36: Mậu Tuất, Kỉ Hợi: Mộc

37-38: Canh Tí, Tân Sửu: Thổ

39-40: Nhâm Dần, Quý Mão: Kim

41-42: Giáp Thìn, Ất Tị: Hoả

43-44: Bính Ngọ, Đinh Mùi: Thuỷ

45-46: Mậu Thân, Kỉ Dậu: Thổ

47-48: Canh Tuất, Tân Hợi: Kim

49-50: Nhâm Tí, Quý Sửu: Mộc

51-52: Giáp Dần, Ất Mão: Thuỷ

53-54: Bính Thìn, Đinh Tị: Thổ

55-56: Mậu Ngọ, Kỉ Mùi: Hoả

57-58: Canh Thân, Tân Dậu: Mộc

59-60: Nhâm Tuất, Quý Hợi: Thuỷ

 

Lại nói về “ĐỐI XUNG”…

 

Thời điểm sáng nhất của Kim Tinh và Thuỷ Tinh luôn nằm ở nơi Mặt Trời mọc/lặn (quan sát lúc bình minh/hoàng hôn), tức là “hội hợp” với Mặt Trời. Ngược lại, Mộc Tinh và Hoả Tinh sáng nhất khi đang “xung Nhật”. Tức là, dựa trên các quan sát từ Trái Đất sẽ thấy thời điểm sáng nhất của Mộc/Hoả luôn “xung” với Kim/Thuỷ.

 

Đây cũng là cơ sở cho một Hà Đồ tuân theo quy luật của vũ trụ. Thổ ở trung tâm không phải Thổ Tinh mà chính là Trái Đất (hành Thổ) nơi trung tâm đứng quan sát. Thổ là trung tâm của con người nằm giữa Mộc/Hoả và Kim/Thuỷ.

 

Có thể biểu thị mô hình này bằng dãy số:

3 2 5 4 1

 

Mô hình đối xứng hoàn hảo với Thổ (5) ở trung tâm:

3 + 2 = 5 = 4 + 1

 

Mộc = 3 và Hoả = 2

Kim = 4 và Thuỷ = 1

 

Điểm cực bắc (vị trí sao Tử Vi) là vị trí cố định trên bầu trời nên được lấy làm điểm mốc, điểm bắt đầu… tương ứng với số 1. Số 1 ở phương bắc cho nên gán cho hành Thuỷ. Con Giáp đầu tiên là Tí cũng được bắt đầu ở điểm cực bắc…

 

Nếu số 1 là Dương, 2 cái Dương thì thành 1 cái Âm. Từ số 1 cộng với số lớn nhất hiện có, tức là 1 cộng thêm 1 thì 1+1=2 (cũng giống như 1 vạch là Dương, cộng thêm 1 vạch nữa là 2 vạch sẽ thành Âm). Như vậy là có Lưỡng Nghi, Nghi thứ nhất là 1 (—) và Nghi thứ hai là 2 (- -). Vị trí của Lưỡng Nghi nếu 1 Dương ở bắc thì đối lập là 2 Âm phải ở nam. Thuỷ đối xung với Hoả, Thuỷ là 1 ở phương bắc thì Hoả là 2 ở phương nam. Có Lưỡng Nghi rồi thì mới có Tứ Tượng. Lại cộng tất cả với số lớn nhất là 2. Ta có, 1+2=3 và 2+2=4. Nếu xoay theo chiều thuận thì từ 1 thành 3, số 3 ở phía Đông… và 2 thành 4, số 4 ở phía Tây… Từ số 1 xoay theo chiều thuận đến số 3 là từ mùa đông chuyển sang mùa xuân nên số 3 hành Mộc. Từ 2 Hoả đến 4 Kim cũng tương tự. Ta có 4 con số cho 4 hướng, 4 hành, 4 mùa. (Tại sao cộng với số lớn nhất? Vì đơn giản là để không bị lặp lại số đã có.)

 

Đem 4 hành xung (Mộc Hoả Kim Thuỷ) nạp đều vào vòng 12 Con Giáp, ta có: 3 Mộc, 3 Hoả, 3 Kim, 3 Thuỷ sẽ được 6 cặp “lục xung”. Lại lấy 4 hành xung xếp vào 4 hướng ta có “tứ hành xung”. Các vị trí “tam hợp” luôn cùng hành. Lại lấy “tam hợp” và “tứ hành xung” áp dụng vào tam phương tứ chính của 12 cung địa bàn để nói về số mệnh con người. Hoặc nói cách khác, sự vận hành trong hệ thống 12 cung địa bàn được xây dựng từ nền tảng này…

 

Ta có kết quả:

Hợi – Mão – Mùi (Mộc)

Dần – Ngọ – Tuất (Hoả)

Tị – Dậu – Sửu (Kim)

Thân – Tí – Thìn (Thuỷ)

 

Theo quy tắc trên thì:

– Mộc và Hoả giáp cung nhau, Kim và Thuỷ giáp cung nhau. Mộc và Hoả nhị hợp với nhau, Kim và Thuỷ nhị hợp với nhau.

– Mộc và Kim chỉ có thể xung chứ không thể giáp. Hoả và Thuỷ chỉ có thể xung chứ không thể giáp.

 

Tóm lại…

 

Khi ứng dụng 12 Con Giáp cho 12 cung… rồi lại ứng dụng “tam hợp” của 60 năm cho 12 cung… và nguyên tắc Can Chi của 12 cung cũng dựa trên 60 cặp Can Chi của Lục Thập Hoa Giáp (theo phương pháp Ngũ Hổ Độn)…

 

Khi đã lồng ghép tất cả vào trong 12 cung địa bàn… ta đã “đóng gói” được mọi quy luật của vũ trụ. Con người là một phần của vũ trụ và vận hành theo quy luật của vũ trụ. Ta lại đặt vào đó 12 cung chức… rồi lại đặt thêm vào các yếu tố về con người, xã hội… bằng các bố cục sao theo nguyên tắc “xung” và “hợp” của vũ trụ…

 

Ta đã có một địa bàn hoàn thiện với tất cả các tính cách con người, các mối quan hệ xã hội… bố cục gia đình, gia tộc… thậm chí là một hệ thống, một tổ chức, một triều đình… đang vận hành theo quy luật của vũ trụ trong từng chu kì, từng giai đoạn, từng vận hội…

 

Người xưa quan sát thiên tượng nhưng luôn đối chiếu ứng nghiệm với tình hình nhân sự trong thực tế. Từ đó, tận dụng thời cơ và cơ hội để “phụng thiên thừa vận” (thuận theo mệnh trời). Đây là phương thức “xu cát tị hung” (tìm cát tránh hung), biết mệnh trời mà làm hết sức người.

 

Sự biến động của các dòng chảy nhỏ đều tuân theo dòng chảy lớn… cái lớn chi phối cái nhỏ, cái dài hạn chi phối cái ngắn hạn… cho nên đại hạn phải xét trước tiểu hạn. Tư duy là đi từ tổng thể đến chi tiết. Do đó, 12 năm, 12 tháng, 12 giờ… tất cả được xếp chồng lên 12 cung, vì tất cả đều thuộc về 1 dòng chảy của vũ trụ. Đó là cái cách mà số mệnh nhỏ bé của con người được đặt vào quy luật lớn của vũ trụ…

 

Đẩu số với các phép số, thuật số, lí số… dựa trên số năm, số tháng, số ngày, số giờ… lại có thể tính toán ra cái số mệnh, số phận… để biết định mệnh mà yên phận… bao nhiêu phép tính thì bấy nhiêu cuộc đời…

 

Vũ trụ lặp lại cứ 60 năm một chu kì lớn… 12 năm một chu kì nhỏ… cho đến từng năm, tháng, ngày, giờ vẫn không thay đổi… Con người muốn biết mình sinh ra ở thời điểm “toạ độ” nào trên dòng thời gian của vũ trụ, mang năng lượng gì, và sống cuộc đời mình ở giai đoạn nào của vũ trụ… Con người là “giọt nước” nhưng cũng muốn quan sát “biển cả” bao la…

 

Con người vẫn là con người… vẫn sinh diệt theo dòng chảy của vũ trụ… vẫn mang bản tính, vẫn tư duy, vẫn bị ràng buộc bởi tư duy… Con người sống trong cuộc đời, nhìn nhận thế giới bằng tư duy… bằng nhị nguyên, nhị phân… từ 0 đến 1, từ 1 đến 2… rồi lại học cách trở về với nguồn cội… từ 2 về 1, từ 1 về 0…

 

Nói về Hà Đồ…

 

Hà Đồ có khẩu khuyết là: “Thiên nhất sinh thuỷ, địa lục thành chi. Địa nhị sinh hoả, thiên thất thành chi. Thiên tam sinh mộc, địa bát thành chi. Địa tứ sinh kim, thiên cửu thành chi. Thiên ngũ sinh thổ, địa thập thành chi.”

 

Dãy 3 2 5 4 1 là các số cơ bản của Ngũ Hành.

 

Ngũ Hành khi phân ra Âm Dương ta có một Hà Đồ. Số 5 lớn nhất… để không bị trùng lặp thì +5 vào tất cả:

Thuỷ: 1 (thiên) và 6 (địa) → 1 + 5 = 6

Hoả: 2 (địa) và 7 (thiên) → 2 + 5 = 7

Mộc: 3 (thiên) và 8 (địa) → 3 + 5 = 8

Kim: 4 (địa) và 9 (thiên) → 4 + 5 = 9

Thổ: 5 (thiên) và 10 (địa) → 5 + 5 = 10

 

Số lẻ là Dương, số chẵn là Âm. Số lẻ là Thiên, số chẵn là Địa. Mô hình này thể hiện vũ trụ là một thể thống nhất và chuyển hoá giữa Dương và Âm, giữa Thiên và Địa. Đó là quá trình liên tục từ “sinh” đến “thành”…

 

Ngũ Hành khi được phân ra Âm Dương cũng tương ứng với 10 Thiên Can, đó là 10 loại “khí trời”:

 

(3) Dương Mộc → Giáp

(8) Âm Mộc → Ất

(7) Dương Hoả → Bính

(2) Âm Hoả → Đinh

(5) Dương Thổ → Mậu

(10) Âm Thổ → Kỉ

(9) Dương Kim → Canh

(4) Âm Kim → Tân

(1) Dương Thuỷ → Nhâm

(6) Âm Thuỷ → Quý

 

Nói về Thiên Can…

 

Sự tác động của Thiên Can là can dự, can thiệp… khiến cho Địa Chi bị chi phối… vì là chi nhánh, là cành ngọn… Thiên Can là trụ trời, là cái thân… thân nuôi nhánh… thân là nền tảng, là nguyên khí…

 

Tứ Hoá tượng trưng cho 4 mùa biến hoá trong một năm. Tứ Hoá sinh ra từ Thiên Can (“khí trời”) của 1 năm làm cho vạn vật dưới đất biến hoá theo 4 mùa. Mặt đất khi tiếp nhận “khí trời” sẽ sinh ra các hiện tượng: sinh sôi (Lộc), cường thịnh (Quyền), thành tựu (Khoa), suy tàn (Kị).

 

Thiên “khí” thì không có hình, không có chất… cao xa vô cực… nhưng có thể giáng xuống, thâm nhập… làm biến đổi mặt đất. Nó biểu hiện trong mọi sự biến hoá của vật chất, tính khí, khí hậu…

 

“Khí” là cái khoảng không bù lấp vật chất, vật thể… là cái mà ta bỏ qua. Vật thể tồn tại và hữu dụng chỉ khi có khoảng trống. Nếu vật chất là hữu hình thì “khí” là phần vô hình, vừa ngăn cách nhưng cũng gắn kết vạn vật trong vũ trụ… Không thấy không có nghĩa là trống rỗng hoàn toàn, cũng không có nghĩa là không vận hành…

 

Nói về Tứ Sinh, Tứ Chính, Tứ Mộ…

 

Người xưa xác định thời gian bằng việc quan sát thiên văn. Sự vận động của các đối tượng không gian như Mặt Trời, Mặt Trăng, Trái Đất… dẫn đến sự biến động của vạn vật và đời sống con người, một sự áp đặt từ vũ trụ vĩ mô…

 

Thông qua “ngôn ngữ” chung Ngũ Hành, người xưa mô tả “khí” của trời giáng xuống làm biến đổi mặt đất. Trời dùng Ngũ Hành để phóng chiếu năng lượng (“khí”)… Đất dùng Ngũ Hành để biểu hiện vật chất (“hình”)…

 

12 cung Địa Chi chia cắt thành 4 mùa Xuân (Mộc), Hạ (Hoả), Thu (Kim), Đông (Thuỷ) và các tháng giao mùa (Thổ).

 

Cụ thể là:

Tháng mùa Xuân (Mộc): Dần, Mão.

Tháng mùa Hạ (Hoả): Tị, Ngọ.

Tháng mùa Thu (Kim): Thân, Dậu.

Tháng mùa Đông (Thuỷ): Hợi, Tí.

Các tháng giao mùa (Thổ): Thìn, Tuất, Sửu, Mùi.

Đây là sự biểu hiện của vật chất trên Trái Đất khi quay quanh Mặt Trời.

 

Người xưa làm nông nghiệp theo mùa vụ, nên họ bổ sung hệ thống TIẾT KHÍ để đồng bộ thời gian với chu kì mùa màng. Cho nên Nông lịch (lịch mùa vụ) như hiện tại đã được tùy biến theo 24 TIẾT KHÍ. Và kiệt tác này giúp con người sống thuận theo tự nhiên và mùa vụ.

 

(Nông lịch hay lịch truyền thống là một loại Âm Dương hợp lịch.)

 

Gọi là Tứ Sinh (Dần Thân Tị Hợi) vì đó là các tháng bắt đầu một chu kì phát triển (của một mùa):

– Lập Xuân luôn ở Dần, thời điểm bắt đầu mùa xuân.

– Lập Hạ luôn ở Tị, thời điểm bắt đầu mùa hạ.

– Lập Thu luôn ở Thân, thời điểm bắt đầu mùa thu.

– Lập Đông luôn ở Hợi, thời điểm bắt đầu mùa đông.

 

(Theo Nông lịch tháng Dần là tháng khởi đầu mùa xuân, cây cối đâm chồi, nên cung Dần trên là số là hành Mộc. Địa Chi đầu tiên là Dần chứ không phải Tí. Vì tháng 1 Nông lịch (tháng Giêng) luôn là tháng Dần. Và việc đếm thuận/nghịch (khi an sao) theo tháng sinh luôn bắt đầu từ tháng Dần. Còn việc đếm thuận/nghịch theo giờ sinh vẫn bắt đầu từ giờ Tí…)

 

Gọi là Tứ Chính (Tí Ngọ Mão Dậu) vì đó là giai đoạn “đắc chính” (tính chất được phát huy rõ rệt nhất, hoặc thường được hiểu là 4 hướng chính trên Hà Đồ):

– Xuân Phân luôn ở Mão, thời điểm giữa mùa xuân.

– Hạ Chí luôn ở Ngọ, thời điểm giữa mùa hạ.

– Thu Phân luôn ở Dậu, thời điểm giữa mùa thu.

– Đông Chí luôn ở Tí, thời điểm giữa mùa đông.

 

Còn lại 4 cung Thổ (Thìn Tuất Sửu Mùi)… Tứ Mộ (nơi chôn cất) là giai đoạn kết thúc, suy tàn của một chu kì:

– Tháng Thìn: từ Thanh Minh (Tảo Mộ) đến cuối Xuân (trước Lập Hạ).

– Tháng Mùi: từ Tiểu Thử đến cuối Hạ (trước Lập Thu).

– Tháng Tuất: từ Hàn Lộ đến cuối Thu (trước Lập Đông).

– Tháng Sửu: từ Tiểu Hàn đến cuối Đông (trước Lập Xuân).

 

Như vậy, sự luân chuyển theo chu kì không gian và tiết khí tạo ra các vòng lặp chi phối mọi tầng mức của sự sống. Mỗi lá số là sự cụ thể hoá của nhịp điệu không gian đó lên vòng đời của vạn vật.

 

Từ các chu kì thiên văn, đến các biến đổi vật lí dưới đất (thời tiết, thuỷ triều, mùa màng…), người xưa tin rằng có một sự tương ứng giữa các hiện tượng trên trời và các sự kiện dưới đất.

 

Con người (Nhân) tồn tại trong không gian đó, sống giữa trời đất, nương tựa vào “hình đất” (Địa) và chịu sự chi phối của “khí trời” (Thiên). Do đó, luôn tồn tại mối liên kết thống nhất gắn chặt con người nói riêng và sự sống nói chung với vũ trụ.

 

Cuộc sống con người xoay vần theo từng nhịp điệu của vũ trụ, đó là sự biến đổi về không gian và thời gian, của ngày và đêm, của 4 mùa… Sự chuyển dịch của thiên văn báo hiệu sự thay đổi của không gian (khí hậu) dưới mặt đất thay đổi, từ đó mà đời sống (nếp sinh hoạt) cũng thay đổi theo.

 

Người xưa nghiên cứu mối quan hệ giữa trời và đất, giữa trời và người, từ đó nảy sinh ra tư tưởng “Thiên Địa Nhân hợp nhất”. Điều này hướng đến sự đồng bộ và hài hoà của nhịp điệu vận động giữa trời đất và người, đây cũng là nền tảng cho sức khỏe con người. Và sự mất cân bằng trong sự dung hợp đó cũng chính là nguyên nhân gốc rễ sinh ra mọi loại bệnh tật…

 

Một số sao ở Tứ Sinh, Tứ Chính, Tứ Mộ…

 

Sao Trường Sinh luôn khởi từ Tứ Sinh. Tứ Sinh còn được gọi là Tứ Mã vì sao Thiên Mã chỉ ở 4 cung này.

 

Sao Quả Tú chỉ an ở Tứ Mộ, tượng trưng cho người phụ nữ mất chồng… quả phụ, goá bụa… Còn sao Cô Thần (luôn tam hợp) ám chỉ đứa trẻ mồ côi cha, cô nhi… Chữ “Cô” (孤) là đứa trẻ mồ côi… được ghép từ bộ “Tử” (子) nghĩa là đứa trẻ… Trong gia đình Cô Quả, người đàn bà không chồng gọi là Quả, đứa trẻ mà không có cha gọi là Cô. Cô Quả mà lại vào cảnh Tang Điếu thì ví như gia Môn có vị Khách đến phúng điếu, điếu tang, đưa tang… an ủi cho cái người cô đơn, lẻ loi ở lại…

 

Với người Dương Nam, Âm Nữ (thuận lí) thì sao Mộ luôn rơi vào Tứ Mộ (và Đế Vượng ở Tứ Chính). Còn người Âm Nam, Dương Nữ (nghịch lí) thì sao Mộ lại rơi vào Tứ Chính (và Đế Vượng ở Tứ Mộ), đúng là gặp cảnh trái nghịch… Tứ Chính còn được gọi là Tứ Bại (vì sao Mộc Dục còn được gọi là sao Bại), người thuận lí thì sao Bại luôn ở 4 cung này…

 

Nói về sao Mộc Dục…

 

Trong vòng Trường Sinh, từ giai đoạn (thụ) Thai… đến Dưỡng (thai)… rồi đến khi được sinh ra và nuôi nấng (Trường Sinh) thì sau đó là giai đoạn Mộc Dục (mới lớn, dậy thì)…

 

Mộc Dục mang ý nghĩa là tắm gội, làm sạch… Hình ảnh “tắm gội” cũng mang ý nghĩa khoe vẻ đẹp thân thể, khơi gợi nhục dục và sức hút giới tính, nhất là ở giai đoạn mới lớn, dậy thì… Mộc Dục là giai đoạn con người dễ sa đà nhất vào những thú vui nhục dục. Cho nên sao này cũng mang năng lượng của sự phô trương vẻ đẹp bên ngoài, tình dục, đào hoa…

 

Tứ Chính cũng được gọi là Tứ Đào Hoa vì sao Đào Hoa chỉ ở 4 cung này. Người thuận lí thì Mộc Dục an ở Tứ Đào Hoa nên có cơ hội đồng cung với sao Đào Hoa càng làm tăng cường thêm tính chất…

Chia sẻ:
Facebook
Bài viết liên quan

Trước hết, nói tổng quát về Ngũ Hành, các sao và các con số…   Việc gán Ngũ Hành có 2 mục đích: – Tính tĩnh: Dùng tính chất vật chất để minh hoạ, ẩn dụ cho các tính cách đặc trưng. – Tính động: Sự tương tác giữa Ngũ...

Giác quan của con người là những bộ lọc hữu hạn. Thị lực, thính lực, xúc giác,… đều có ngưỡng trên và ngưỡng dưới. Thực tại mà ta trải nghiệm hàng ngày chỉ là một phiên bản rút gọn của thế giới khách quan, được chọn lọc và giới hạn...

Có phải cứ nhiều chi tiết mới là giàu có? Tối giản không phải là nghèo nàn, mà là năng lực nhận ra cái cốt lõi.   Tối giản không đơn thuần là loại bỏ để trở nên trống rỗng. Một căn phòng trống trơn không phải là tối giản...

Chủ nghĩa Siêu thực chỉ ra một con đường tiếp cận những lĩnh vực mà lý trí đã bỏ qua: thế giới của giấc mơ và vô thức. Đó là sự hiểu biết toàn diện hơn về bản thân và hiện thực, vượt ra ngoài giới hạn của lý trí....

NỔI BẬT
Theo dõi chúng tôi trên MXH:
Liên hệ:
contact.hbth@gmail.com
© 2023 hatbuitamhon. All rights reserved.
Scroll to Top