Người xưa mượn các vì sao để mã hoá hệ sinh thái phức tạp của con người vào trong một lá số. Tử Vi là sự giao thoa giữa khoa dự đoán và thiên văn. Nhưng các sao an vào địa bàn không phải tinh đẩu thật mà chỉ là sự vay mượn để đưa nhân sinh quan vào lá số.
Vậy thì…
Cái nào là thiên văn?
Hay chỉ là vay mượn để tượng trưng?
Mượn cái gì?
Mượn ở đâu?
Mượn như thế nào?
Ví dụ…
Đầu tiên là Thái Âm và Thái Dương… Đây là biểu tượng của Mặt Trăng và Mặt Trời. Thái Âm nhập miếu ở các cung ban đêm, đó là các giờ Dậu Tuất Hợi. Còn Thái Dương nhập miếu ở các cung giờ ban ngày và các tháng mùa hạ (Tị Ngọ)…
Nói về Thái Tuế…
Người xưa chia bầu trời thành 12 khu vực sao (gọi là Tinh Thứ). Mộc Tinh có chu kì xấp xỉ 12 năm quanh Mặt Trời. Vì cứ mỗi năm Mộc Tinh lại tiến thêm một vị trí trong 12 “khoảng trời” đó, cho nên được dùng để đánh dấu thời gian và còn gọi là Tuế Tinh. Nhưng Tuế Tinh di chuyển theo hướng từ Tây sang Đông, đi nghịch với trật tự 12 con Giáp vốn được xếp theo hướng từ Đông sang Tây, hơn nữa chu kì không tròn 12 năm dẫn đến sai số. Cho nên để thuận tiện cho việc ứng dụng thuật số, người xưa đã sáng tạo ra sao Thái Tuế (một ngôi sao trừu tượng) đi thuận từ Đông sang Tây.
(Ngoài ra, 12 con Giáp thì chữ “Giáp” ở đây không phải là chỉ Thiên Can. Trước đây, Can gọi là Hoa, Chi gọi là Giáp, cho nên Can Chi còn gọi là Hoa Giáp. Và 60 cặp Can Chi gọi là Lục Thập Hoa Giáp. Tóm lại, 12 con Giáp là đang nói 12 Địa Chi.)
Như vậy, sao Thái Tuế là một ngôi sao hư cấu, một sự sáng tạo dựa trên Tuế Tinh (Mộc Tinh) của người xưa để ứng dụng trong thuật số…
Trong những nỗ lực nhằm tìm ra trật tự trong sự hỗn độn của tự nhiên và cuộc đời, các “hư tinh” được vay mượn trên lá số chính là việc đúc kết các nguyên mẫu tâm lí, các hoàn cảnh điển hình và các mô hình xác suất vào trong những biểu tượng cụ thể. Bởi vì, đời sống con người vốn phức tạp và dung chứa vô vàn biến số về tâm lí, hoàn cảnh xã hội và các mối quan hệ đan xen. Điều này giúp hệ thống hoá sự hỗn mang của đời người thành những lớp lang tinh tế và tỉ mỉ. Biến những quan sát phức tạp thành một bức tranh biểu tượng dễ chiêm nghiệm và ứng dụng…
Lá số Tử Vi có 12 cung tương ứng với 12 “khoảng trời”. Và mỗi năm Thái Tuế di chuyển thêm 1 cung tương ứng với con Giáp của năm đó. Năm hạn đó là con Giáp gì thì an Lưu Niên Thái Tuế ở cung đó. Thái Tuế được coi là ông vua cai quản cho năm đó. Đối với Thái Tuế an theo con Giáp của năm sinh cũng vậy… Và nhất là năm mà có Lưu Niên Thái Tuế trùng với Thái Tuế Năm Sinh thì cung đó sẽ có sự chú trọng hoặc biến động lớn…
(Ngoài ra, trong lịch pháp có sự phân biệt 2 khái niệm “Tuế” và “Niên”. “Tuế” chỉ một năm Dương lịch, dựa trên chu kì Trái Đất quay quanh Mặt Trời là 365 ngày. “Niên” chỉ một năm Âm lịch, dựa trên 12 chu kì của Mặt Trăng là 354 ngày.)
Nói về Tử Vi Đế Tinh…
Nếu Thái Tuế là vua của một năm thì Tử Vi là vua của muôn sao. Sao Tử Vi là Đế Tinh, chính là sao Bắc Cực, dùng để xác định phương hướng. Đây là ngôi sao gần với cực bắc của Trái Đất nhất, nên khi nhìn từ Trái Đất, nó gần như đứng yên trong khi các ngôi sao khác di chuyển.
Trên bầu trời, sao Bắc Cực luôn cố định ở một vị trí và các ngôi sao khác phải xoay quanh nó. Sở dĩ sao Bắc Cực khác biệt với những sao khác là vì trục tự quay của Trái Đất gần như nhắm thẳng vào nó. Do đó, khi Trái Đất tự quay quanh trục, sao Bắc Cực nằm sát thiên cực bắc trông có vẻ như đang tĩnh tại. Do tính chất đặc biệt của sao Bắc Cực, cho nên vào ban đêm có thể dùng sao Bắc Cực để phân biệt phương hướng. Trước khi la bàn được phát minh, người xưa đi biển vào đêm tối chính là nhờ vào sao Bắc Cực để dẫn đường.
Xung quanh sao Tử Vi (Bắc Cực), có 7 ngôi sao, tạo thành hình “cái muôi”, gọi là Bắc Đẩu Thất Tinh. Chữ “Đẩu” (斗) có nghĩa là đồ vật dùng để múc nước: cái đẩu, cái đấu, cái muôi, cái gáo… Có 2 cái Đẩu được đưa vào môn Đẩu Số, 1 là Bắc Đẩu, và 1 là Nam Đẩu.
7 ngôi sao của Bắc Đẩu Thất Tinh có tên là: Thiên Xu, Thiên Tuyền, Thiên Cơ, Thiên Quyền, Ngọc Hoành, Khai Dương, Dao Quang. Nhưng trong Đạo giáo và thuật số lại gọi tên chúng tương ứng lần lượt là: Tham Lang, Cự Môn, Lộc Tồn, Văn Khúc, Liêm Trinh, Vũ Khúc, Phá Quân.
Sao Tử Vi ngự ở một ví trí cố định được 7 ngôi sao này chầu về, trong thời cổ đại là biểu tượng của hoàng quyền, đại diện cho quyền lực, sự uy nghiêm và sự thống trị chính thống, là trung tâm hướng về của lòng người.
Bắc Đẩu Thất Tinh hình dáng như “cái muôi” trên bầu trời, chuôi muôi sẽ chuyển động xoay tròn quanh sao Bắc Cực (Tử Vi) theo sự thay đổi của bốn mùa xuân hạ thu đông. Khi chuôi muôi chỉ hướng đông, thiên hạ đều là mùa xuân. Khi chuôi muôi chỉ hướng nam, thiên hạ đều là mùa hạ. Khi chuôi muôi chỉ hướng tây, thiên hạ đều là mùa thu. Khi chuôi muôi chỉ hướng bắc, thiên hạ đều là mùa đông. Thời cổ đại, con người dùng nó để quan sát sự thay đổi của bốn mùa.
Người xưa quan sát thiên tượng nhưng luôn đối chiếu để tìm sự ứng nghiệm với tình hình nhân sự trong thực tế. Từ đó, tận dụng thời cơ và cơ hội để “phụng thiên thừa vận” (thuận theo mệnh trời). Đây là phương thức “xu cát tị hung” (tìm cát tránh hung), biết mệnh trời mà làm hết sức người.
Trước đây, Bắc Đẩu Thất Tinh có 9 ngôi sao, cho nên gọi là Bắc Đẩu Cửu Tinh. Nhưng có 2 ngôi sao đã mờ dần không còn quan sát được, đó là Tả Phụ và Hữu Bật.
Có Bắc Đẩu tự nhiên sẽ có Nam Đẩu. Nhìn về Bắc thì cũng phải nhìn về Nam, còn ta ở giữa… Đối xứng với với Bắc Đẩu Cửu Tinh là Nam Đẩu Lục Tinh, cũng có hình dáng như “cái muôi”. Bắc Đẩu Cửu Tinh thuộc chòm Đại Hùng, Nam Đẩu lục tinh thuộc chòm Nhân Mã.
Nam Đẩu Lục Tinh gồm 6 sao: Thiên Phủ, Thiên Lương, Thiên Cơ, Thiên Đồng, Thiên Tướng, Thất Sát.
Người xưa mượn hình ảnh bầu trời để vẽ ra một bản đồ giải phẫu tinh thần. Và lá số là sự mô phỏng vũ trụ ở khía cạnh con người. Tất cả các tinh tú trong đó đều là vay mượn. Nhưng đều đang mô tả những trạng thái năng lượng tồn tại thực sự bên trong mỗi con người. Tức là, mượn “đại vũ trụ” để minh hoạ cho cái “tiểu vũ trụ” bên trong con người. Mỗi tinh tú mang một tính cách, một nguồn năng lượng cai quản nó, một thần cai quản, một thần, một tinh thần… Thời khắc một người sinh ra là một “tọa độ tinh thần” trong sự biến động không ngừng của dòng chảy vũ trụ vô tận.
Có một niềm tin rằng, tinh thần là một phần của vũ trụ và mọi sự chi phối đến từ đó. Con người và vũ trụ có mối liên hệ mật thiết, không tách rời.
Nói về Ngũ Tinh…
Trên bầu trời có 5 ngôi sao lớn, đó là Kim Mộc Thuỷ Hoả Thổ…
Người xưa gọi 5 ngôi sao này như sau:
Mộc Tinh gọi là Tuế Tinh.
Kim Tinh gọi là Thái Bạch.
Hoả Tinh gọi là Huỳnh Hoặc.
Thuỷ Tinh gọi là Thìn Tinh.
Thổ Tinh gọi là Điền Tinh.
Câu hỏi đặt ra là…
Thuyết Ngũ Hành có phải bắt nguồn từ 5 hành tinh này không?
5 hành tinh này có xuất hiện trên bầu trời theo các vị trí như trên Hà Đồ không?
Nói về Hà Đồ…
Hà Đồ có khẩu khuyết là: “Thiên nhất sinh thuỷ, địa lục thành chi. Địa nhị sinh hoả, thiên thất thành chi. Thiên tam sinh mộc, địa bát thành chi. Địa tứ sinh kim, thiên cửu thành chi. Thiên ngũ sinh thổ, địa thập thành chi.”
Nó được biểu thị bằng quy tắc cộng số:
Thuỷ: 1 (thiên) và 6 (địa) → 1 + 5 = 6
Hoả: 2 (địa) và 7 (thiên) → 2 + 5 = 7
Mộc: 3 (thiên) và 8 (địa) → 3 + 5 = 8
Kim: 4 (địa) và 9 (thiên) → 4 + 5 = 9
Thổ: 5 (thiên) và 10 (địa) → 5 + 5 = 10
Số 5 ở trung tâm chính là cầu nối, là yếu tố trung chuyển giữa Trời và Đất.
Số lẻ là Dương, số chẵn là Âm. Số lẻ là Thiên, số chẵn là Địa. Nó thể hiện vũ trụ là một thể thống nhất và chuyển hoá giữa Âm và Dương, giữa Thiên và Địa. Đó là quá trình liên tục từ “sinh” đến “thành”.
Đây là quy luật hình thành và vận hành của vạn vật trong vũ trụ… và cũng là vũ trụ quan của con người…
Hà Đồ có một cách giải thích như sau:
– Thuỷ Tinh xuất hiện ở phương bắc: hàng tháng vào ngày 1, 6, 11, 16… vào giờ 1 (Tí) và giờ 6 (Tị).
– Hoả Tinh xuất hiện ở phương nam: hàng tháng vào ngày 2, 7, 12, 17… vào giờ 2 (Sửu) và giờ 7 (Ngọ).
– Mộc Tinh xuất hiện ở phương đông: hàng tháng vào ngày 3, 8, 13, 18… vào giờ 3 (Dần) và giờ 8 (Mùi).
– Kim Tinh xuất hiện ở phương tây: hàng tháng vào ngày 4, 9, 14, 19… vào giờ 4 (Mão) và giờ 9 (Thân).
– Thổ Tinh xuất hiện ở trung tâm: hàng tháng vào ngày 5, 10, 15, 20… vào giờ 5 (Thìn) và giờ 10 (Dậu).
30 ngày trong tháng được chia đều thành 5 dãy số, mỗi số trong dãy cách nhau đúng 5 đơn vị:
Dãy 1: 1, 6, 11, 16…
Dãy 2: 2, 7, 12, 17…
Dãy 3: 3, 8, 13, 18…
Dãy 4: 4, 9, 14, 19…
Dãy 5: 5, 10, 15, 20…
Tương ứng với Thổ Cục…
Đối với thiên văn học, việc một hành tinh luôn xuất hiện ở cùng một phương vào cùng một giờ, ngày, tháng cố định như trên là không chính xác. Những điều này không thuộc hệ thống thiên văn quan sát (khoa học, lịch pháp), mà nó thuộc về hệ thống vũ trụ quan Dịch lí (do các nhà Nho học, Đạo học thời cổ đại xây dựng). Thực tế các hành tinh này không vận động một cách lí tưởng như vậy.
Tại sao người xưa lại đúc kết như vậy? Bởi vì đây là bối cảnh tượng trưng, là bối cảnh giả lập… nhằm đúc kết và minh hoạ cho triết lí của người xưa, chứ không phải là những quan sát thực nghiệm.
Thuật số vay mượn danh nghĩa của các ngôi sao thực này, còn thứ phát minh ra lại là một hệ thống tinh tú hư ảo. Người xưa dùng hình ảnh các tinh tú như là biểu tượng và mã số những quy luật vận hành bất biến của tự nhiên để từ đó tạo ra thuyết Ngũ Hành.
Ngũ Hành khi được phân ra âm dương tương ứng với 10 Thiên Can, đó là 10 loại “khí” trời:
Dương Mộc → Giáp
Âm Mộc → Ất
Dương Hoả → Bính
Âm Hoả → Đinh
Dương Thổ → Mậu
Âm Thổ → Kỉ
Dương Kim → Canh
Âm Kim → Tân
Dương Thuỷ → Nhâm
Âm Thuỷ → Quý
Và 10 loại “khí” này làm cho các Tinh Đẩu (Bắc Đẩu, Nam Đẩu) biến hoá mà sinh ra hoá khí. Trong Đẩu Số thì chỉ có các Tinh Đẩu và Nhật Nguyệt mới có hoá khí. Mỗi chính tinh trong đó được gán cho một Thiên Can. Và Ngũ Hành của chính tinh cũng được lấy từ Ngũ Hành của Thiên Can. Âm Dương của chính tinh cũng được lấy từ Âm Dương của Thiên Can.
Cụ thể là:
Tử Vi – Mậu – Thổ – Dương
Thiên Cơ – Ất – Mộc – Âm
Thái Dương – Bính – Hoả – Dương
Vũ Khúc – Tân – Kim – Âm
Thiên Đồng – Nhâm – Thuỷ – Dương
Liêm Trinh – Đinh – Hoả – Âm
Thiên Phủ – Kỉ – Thổ – Âm
Thái Âm – Quý – Thuỷ – Âm
Tham Lang – Quý – Thuỷ – Âm
Cự Môn – Quý – Thuỷ – Âm
Thiên Tướng – Nhâm – Thuỷ – Dương
Thiên Lương – Ất – Mộc – Âm
Thất Sát – Canh – Kim – Dương
Phá Quân – Quý – Thuỷ – Âm
Ta có: 6 Thuỷ, 2 Thổ, 2 Hoả, 2 Mộc, 2 Kim. Ngoài ra, trong ứng dụng còn có thêm các hành “đới”…
Thiên Can là biểu hiện của “khí” trời, thuần túy về năng lượng, không có tượng hình như Địa Chi. Người xưa dùng hình tượng 12 con Giáp để dạy Chi, nhưng Can thì trừu tượng hơn.
Trời ở trên cao, đất ở dưới thấp, vốn là hai hệ quy chiếu hoàn toàn khác biệt. Vì là hai phạm trù khác biệt (khí thiên, hình địa) nên để minh hoạ sự tương tác với nhau phải bằng một quy luật chung là Ngũ Hành.
Trời dùng Ngũ Hành để biểu hiện sự phóng chiếu năng lượng (“khí”). Đất dùng Ngũ Hành để biểu hiện vật chất (“hình”). Thông qua một ngôn ngữ chung Ngũ Hành, người xưa mô tả “khí” của trời giáng xuống làm biến đổi vạn vật dưới mặt đất. Nó biểu hiện trong mọi sự biến hoá của vật chất, tính khí, khí hậu…
“Khí” là cái khoảng không bù lấp vật chất, là cái mà ta vẫn bỏ quên. Cái “không” đan xen vào cái “có” làm cho cái “có” tồn tại và hữu dụng. Nếu vật chất là hữu hình thì “khí” là phần vô hình, vừa ngăn cách nhưng cũng gắn kết vạn vật trong vũ trụ… Và cũng là “tâm khí”, là dòng chảy vô tận trong không gian tâm linh và tinh thần… Cái không thấy không có nghĩa là trống rỗng hoàn toàn, cũng không có nghĩa là không vận hành… Thiên “khí” thì không có hình, không có chất… dù nơi cao xa vô cực… nhưng có thể giáng xuống, tương giao, thâm nhập… trong từng lớp tầng của Địa “hình” dưới dạng 5 loại cơ bản, mỗi loại lại phân ra mặt Âm và mặt Dương, tổng là 10 Thiên Can.
Tứ Hoá tượng trưng cho 4 mùa biến hoá trong một năm. Tứ Hoá sinh ra từ Thiên Can (khí trời) của 1 năm làm cho vạn vật dưới đất biến hoá theo 4 mùa. Mặt đất khi tiếp nhận khí trời sẽ sinh ra các hiện tượng: sinh sôi (Lộc), cường thịnh (Quyền), thành tựu (Khoa), suy tàn (Kị). Các Tinh Đẩu có vai trò biểu hiện sự biến hoá ấy.
Nói về Tứ Sinh, Tứ Chính, Tứ Mộ…
Người xưa xác định thời gian bằng việc quan sát thiên văn. Sự vận động của các đối tượng không gian như Mặt Trời, Mặt Trăng, Trái Đất… cũng dẫn đến sự biến động của vạn vật và đời sống con người. Đây là góc nhìn từ sự áp đặt trật tự từ vũ trụ vĩ mô…
Người xưa làm nông nghiệp theo mùa vụ, theo Nông lịch tháng Dần là tháng khởi đầu mùa xuân, cây cối đâm chồi, nên cung Dần trên là số là hành Mộc. Địa Chi đầu tiên là Dần chứ không phải Tí. Vì tháng 1 Nông lịch (tháng Giêng) luôn là tháng Dần. Do đó việc đếm thuận/nghịch (khi an sao) theo tháng sinh luôn bắt đầu từ tháng Dần. Còn việc đếm thuận/nghịch theo giờ sinh vẫn bắt đầu từ giờ Tí…
12 cung Địa Chi chia cắt thành 4 mùa Xuân (Mộc), Hạ (Hoả), Thu (Kim), Đông (Thuỷ) và các tháng giao mùa (Thổ). Đây là sự biểu hiện của vật chất trên Trái Đất khi quay quanh Mặt Trời.
Người xưa làm nông nghiệp theo mùa vụ, nên họ bổ sung hệ thống “tiết khí” để đồng bộ thời gian với chu kì mùa màng. Cho nên Nông lịch hiện tại đã được tùy biến theo 24 tiết khí. Và kiệt tác này giúp con người sống thuận theo tự nhiên và mùa vụ.
(Nông lịch – lịch mùa vụ: là một loại Âm Dương hợp lịch.)
Gọi là Tứ Sinh (Dần Thân Tị Hợi) vì đó là các tháng bắt đầu một chu kì phát triển (của một mùa):
– Lập Xuân luôn ở Dần, thời điểm bắt đầu mùa xuân.
– Lập Hạ luôn ở Tị, thời điểm bắt đầu mùa hạ.
– Lập Thu luôn ở Thân, thời điểm bắt đầu mùa thu.
– Lập Đông luôn ở Hợi, thời điểm bắt đầu mùa đông.
Gọi là Tứ Chính (Tí Ngọ Mão Dậu) vì đó là giai đoạn đắc chính (tính chất được phát huy rõ rệt nhất, hoặc thường được hiểu là 4 hướng chính trên Hà Đồ):
– Xuân Phân luôn ở Mão, thời điểm giữa mùa xuân.
– Hạ Chí luôn ở Ngọ, thời điểm giữa mùa hạ.
– Thu Phân luôn ở Dậu, thời điểm giữa mùa thu.
– Đông Chí luôn ở Tí, thời điểm giữa mùa đông.
Còn lại 4 cung Thổ (Thìn Tuất Sửu Mùi)… Tứ Mộ (nơi chôn cất) là giai đoạn kết thúc, suy tàn của một chu kì:
– Tháng Thìn: từ Thanh Minh (Tảo Mộ) đến cuối Xuân (trước Lập Hạ).
– Tháng Mùi: từ Tiểu Thử đến cuối Hạ (trước Lập Thu).
– Tháng Tuất: từ Hàn Lộ đến cuối Thu (trước Lập Đông).
– Tháng Sửu: từ Tiểu Hàn đến cuối Đông (trước Lập Xuân).
Như vậy, sự luân chuyển theo chu kì không gian và tiết khí tạo ra các vòng lặp chi phối mọi tầng mức của sự sống. Mỗi lá số cũng chính là sự cụ thể hoá của nhịp điệu không gian đó lên vòng đời của vạn vật.
Từ các chu kì thiên văn, đến các biến đổi vật lí dưới đất (thời tiết, thuỷ triều, mùa màng…), người xưa tin rằng có một sự tương ứng giữa các hiện tượng trên trời và các sự kiện dưới đất.
Cuộc sống con người xoay vần theo từng nhịp điệu của vũ trụ, đó là sự biến đổi về không gian và thời gian, của ngày và đêm, của 4 mùa. Sự chuyển dịch của thiên văn báo hiệu sự thay đổi của không gian (khí hậu) dưới mặt đất thay đổi, từ đó mà đời sống (nếp sinh hoạt) cũng thay đổi theo.
Con người (Nhân) tồn tại trong không gian đó, sống giữa trời đất, nương tựa vào “hình đất” (Địa) và chịu sự chi phối của “khí trời” (Thiên). Do đó, luôn tồn tại mối liên kết thống nhất gắn chặt con người nói riêng và sự sống nói chung với vũ trụ.
Người xưa nghiên cứu mối quan hệ giữa trời và đất, giữa trời và người mà nảy sinh ra tư tưởng “Thiên Địa Nhân hợp nhất”. Qua sự quan sát hiện tượng và sự vật trên Trái Đất, cùng các cảm nghiệm của cơ thể người, từ đó đúc kết và nắm bắt quy luật biến đổi. Điều này hướng đến sự đồng bộ và hài hoà của nhịp điệu vận động giữa trời đất và người, đây là nền tảng cho sinh khí và sức khỏe con người. Và sự mất cân bằng trong sự dung hợp đó chính là nguyên nhân gốc rễ sinh ra mọi loại bệnh tật.
Nói thêm về Tứ Sinh, Tứ Chính, Tứ Mộ…
Tứ Sinh còn được gọi là Tứ Mã vì sao Thiên Mã chỉ ở 4 cung này. Sao Trường Sinh luôn khởi từ Tứ Sinh.
Sao Trường Sinh (長生) được ghép từ chữ Sinh (生) được cấu tạo bởi nét phẩy ở trên cùng tượng trưng cho một mầm non, đâm xuyên qua mặt đất (bộ Thổ: 土). Do đó, chữ Sinh mang ý nghĩa là sinh ra, sinh trưởng, nảy mầm, nảy nở, vươn lên, phát triển, tồn tại… Ghép với chữ Trường (長), hoặc đọc là Tràng, khắc hoạ hình ảnh một người có mái tóc dài, tay cầm gậy, tượng trưng cho người lớn tuổi… Khi ghép lại thành Trường Sinh thì mang hàm ý về sự kéo dài của sinh mệnh, một quá trình sinh trưởng liên tục, bền bỉ, lâu dài, không ngừng nghỉ… nên thường được hiểu là “sống lâu”…
Sao Quả Tú chỉ an ở Tứ Mộ, tượng trưng cho người phụ nữ mất chồng… quả phụ, góa bụa… Còn sao Cô Thần (luôn tam hợp) ám chỉ đứa trẻ mồ côi cha, cô nhi… Chữ “Cô” (孤) là đứa trẻ mồ côi… được ghép từ bộ “Tử” (子) nghĩa là đứa trẻ… Người xưa nói về già mà không chồng gọi là Quả, đứa trẻ mà không có cha gọi là Cô.
Gặp khúc Cô Quả mà lại cảnh Tang Điếu thì gia Môn có vị Khách đến phúng điếu, điếu tang, đưa tang…
Với người Dương Nam, Âm Nữ (thuận lí) thì sao Mộ luôn rơi vào Tứ Mộ (và Đế Vượng ở Tứ Chính). Còn người Âm Nam, Dương Nữ (nghịch lí) thì sao Mộ lại rơi vào Tứ Chính (và Đế Vượng ở Tứ Mộ), đúng là gặp cảnh trái nghịch… Tứ Chính còn được gọi là Tứ Bại (vì sao Mộc Dục còn được gọi là sao Bại), người thuận lí thì sao Bại luôn ở 4 cung này…
Phân tích sao Mộc Dục (沐浴)…
Mộc (沐): Bộ Thuỷ (氵) đứng trước, bên phải là chữ Mộc (木 – cây). Nghĩa là gội đầu, tức là dùng nước tưới lên mái tóc như nước tưới lên cành cây.
Dục (浴): Bộ Thuỷ (氵) đứng trước, bên phải là chữ Cốc (谷 – khe lũng, khe suối…). Nghĩa là tắm toàn thân trong dòng nước chảy, ngâm mình trong khe suối…
Khi ghép lại, Mộc Dục mang ý nghĩa là tắm gội, làm sạch… Trong vòng Trường Sinh, Mộc Dục tượng trưng cho hình ảnh đứa trẻ vừa cất tiếng khóc chào đời, được bà đỡ đem đi tắm rửa, gột sạch những ô uế của màng ối để chính thức bước vào cõi nhân sinh.
Hình ảnh “tắm gội” cũng mang ý nghĩa khoe vẻ đẹp thân thể, khơi gợi nhục dục và sức hút giới tính. Ở trạng thái Mộc Dục, con người quyến rũ nhất và cũng dễ sa đà nhất vào những thú vui nhục dục. Cho nên sao này cũng mang năng lượng của sự phô trương vẻ đẹp bên ngoài, tình dục, đào hoa…
Tứ Chính cũng được gọi là Tứ Đào Hoa vì sao Đào Hoa chỉ ở 4 cung này. Người thuận lí thì Mộc Dục an ở Tứ Đào Hoa nên có cơ hội đồng cung với sao Đào Hoa càng làm tăng cường thêm tính chất…