Nói về Ngũ Hổ Độn…
Can của 12 tháng được xác định như sau:
– Năm sinh Giáp/Kỉ khởi ở cung Bính Dần.
– Năm sinh Ất/Canh khởi ở cung Mậu Dần.
– Năm sinh Bính/Tân khởi ở cung Canh Dần.
– Năm sinh Đinh/Nhâm khởi ở cung Nhâm Dần.
– Năm sinh Mậu/Quý khởi ở cung Giáp Dần.
Tại sao lại có sự đúc kết này?
Ngũ Hổ Độn có 5 điểm khởi Dần (theo thứ tự 60 cặp Can Chi):
→ Bính Dần, Đinh Mão, Mậu Thìn, Kỉ Tị, Canh Ngọ, Tân Mùi, Nhâm Thân, Quý Dậu, Giáp Tuất, Ất Hợi, Bính Tí, Đinh Sửu;
→ Mậu Dần, Kỉ Mão, Canh Thìn, Tân Tị, Nhâm Ngọ, Quý Mùi, Giáp Thân, Ất Dậu, Bính Tuất, Đinh Hợi, Mậu Tí, Kỉ Sửu;
→ Canh Dần, Tân Mão, Nhâm Thìn, Quý Tị, Giáp Ngọ, Ất Mùi, Bính Thân, Đinh Dậu, Mậu Tuất, Kỉ Hợi, Canh Tí, Tân Sửu;
→ Nhâm Dần, Quý Mão, Giáp Thìn, Ất Tị, Bính Ngọ, Đinh Mùi, Mậu Thân, Kỉ Dậu, Canh Tuất, Tân Hợi, Nhâm Tí, Quý Sửu;
→ Giáp Dần, Ất Mão, Bính Thìn, Đinh Tị, Mậu Ngọ, Kỉ Mùi, Canh Thân, Tân Dậu, Nhâm Tuất, Quý Hợi, Giáp Tí, Ất Sửu;
Theo thứ tự trên, khi đã biết cung Mệnh ở Chi nào rồi thì Can của cung Mệnh được xác định bằng Ngũ Hổ Độn. Và Ngũ Hành Nạp Âm của cặp Can Chi cung Mệnh chính là Ngũ Hành của Cục…
Nếu Ngũ Hành Nạp Âm của Mệnh xác định bằng 60 cặp Can Chi theo chu kì năm… thì Ngũ Hành Nạp Âm của Cục là 60 cặp Can Chi theo chu kì tháng…
Vì Mệnh khởi từ Tí, còn Cục khởi từ Dần. Mệnh dựa trên năm, Cục dựa trên tháng. Nạp Âm của Mệnh là chu kì 60 năm, Nạp Âm của Cục là chu kì 60 tháng. Cả hai đều đối chiếu với 60 cặp Can Chi mà xác định.
Nói về chu kì 60 tháng…
Ta biết rằng:
12 tháng = 1 năm
Vậy thì:
60 tháng = 5 năm
Từ đây, ta có quy tắc Ngũ Hổ Độn…
Chu kì 60 năm và 60 tháng đều dùng chung một hệ 60 cặp Can Chi không bao giờ thay đổi về thứ tự và Ngũ Hành Nạp Âm. Chỉ khác là chu kì năm khởi từ Tí, còn chu kì tháng khởi từ Dần (vì tháng 1 theo lịch truyền thống là tháng Dần).
Khi năm và tháng cùng vận hành sẽ như thế nào?
Năm đầu tiên là Giáp Tí. Tháng đầu tiên là Bính Dần. Cứ thế mà đếm tiếp…
Theo đó, năm đầu tiên khởi từ Tí nên lấy chữ Giáp. Có nghĩa là sinh năm Giáp thì Can của tháng khởi ở Bính Dần. Từ Bính Dần mà đếm tiếp cho các tháng sau…
Nếu tháng 1 của năm đầu tiên khởi ở Bính Dần thì đếm đến tháng 12 là Đinh Sửu (theo thứ tự 60 cặp Can Chi). Nếu tháng cuối của năm Giáp là Đinh Sửu… thì sau tháng Đinh Sửu là tháng Mậu Dần…
Năm đầu tiên là Giáp thì năm tiếp theo là Ất (theo thứ tự 10 Thiên Can). Cho nên sinh năm Ất thì tháng 1 khởi ở Mậu Dần (sau Đinh Sửu). Tháng 1 là Mậu Dần thì đếm đến tháng 12 là Kỉ Sửu. Đến Kỉ Sửu là kết thúc năm Ất…
Cứ như vậy… Sau năm Ất là năm Bính… Sau tháng Kỉ Sửu (tháng cuối của năm Ất) là tháng Canh Dần (theo thứ tự 60 cặp Can Chi) cho nên sinh năm Bính thì tháng 1 khởi ở Canh Dần. Tháng 1 là Canh Dần thì đếm đến tháng 12 là Tân Sửu. Như vậy là kết thúc năm Bính…
Tương tự với 2 năm tiếp theo là năm Đinh và năm Mậu… Như vậy là hoàn tất chu kì 60 tháng trong 5 năm từ Giáp→Mậu… Và 5 năm tiếp theo từ Kỉ→Quý thì chu kì lặp lại giống hệt…
Đến năm Kỉ chu kì lặp lại, tháng 1 lại khởi ở Bính Dần (giống với năm Giáp)…
Mỗi con hổ (Dần) khởi ở tháng 1 của 12 tháng và 12×5=60 thì chu kì 60 tháng có 5 con hổ. 60 tháng = 5 năm và 5 con hổ đó khởi tháng cho 5 năm.
Trong 10 năm thì 5 năm đầu và 5 năm sau đều có chu kì 60 tháng giống hệt nhau (tương ứng với 60 cặp Can Chi). Giáp-Ất-Bính-Đinh-Mậu là 5 năm đầu. Kỉ-Canh-Tân-Nhâm-Quý là 5 năm sau. Điều đó có nghĩa là cứ 5 năm “khí” của tháng lặp lại một cách hoàn chỉnh.
Đây là lí do Ngũ Hổ Độn ghép:
Giáp với Kỉ
Ất với Canh
Bính với Tân
Đinh với Nhâm
Mậu với Quý
Vì các cặp Can năm này đều có Can tháng giống hệt nhau.
Từ đây, ta cũng có cơ sở cho thuyết Thiên Can Ngũ Hợp:
Giáp hợp Kỉ
Ất hợp Canh
Bính hợp Tân
Đinh hợp Nhâm
Mậu hợp Quý
Nếu có thêm hiện tượng “hoá” thì gọi là Thiên Can Hợp Hoá:
– Giáp hợp Kỉ hoá Thổ (vì Bính Hoả sinh Thổ).
– Ất hợp Canh hoá Kim (vì Mậu Thổ sinh Kim).
– Bính hợp Tân hoá Thuỷ (vì Canh Kim sinh Thuỷ).
– Đinh hợp Nhâm hoá Mộc (vì Nhâm Thuỷ sinh Mộc).
– Mậu hợp Quý hoá Hoả (vì Giáp Mộc sinh Hoả).
Như vậy, đây là mối quan hệ của chu kì năm và tháng. Cứ 5 năm có 60 tháng và 60 cặp Can Chi đó vận hành trọn vẹn trong 5 năm. Cứ 5 năm sẽ hoàn tất một chu kì 60 Hoa Giáp bắt đầu từ Bính Dần.
Đối với mối quan hệ của chu kì ngày và giờ cũng tương tự… Nhưng giờ khởi từ Tí chứ không phải Dần, cho nên được gọi là Ngũ Tí Độn…
Can của 12 giờ được xác định như sau:
– Ngày Giáp/Kỉ khởi ở cung Giáp Tí.
– Ngày Ất/Canh khởi ở cung Bính Tí.
– Ngày Bính/Tân khởi ở cung Mậu Tí.
– Ngày Đinh/Nhâm khởi ở cung Canh Tí.
– Ngày Mậu/Quý khởi ở cung Nhâm Tí.
Tức là, 1 ngày có 12 giờ bắt đầu từ Tí và 12×5=60 thì cứ 5 ngày có 60 giờ (được gọi tên tương ứng với 60 cặp Can Chi).
Ngũ Tí Độn còn gọi là Ngũ Thử Độn (五䑕遁). Chữ “Thử” (䑕) có nghĩa là con chuột. Còn chữ “Độn” (遁) có nghĩa là tính toán sự vận động ẩn giấu…
Ngũ Tí Độn là cơ sở quan trọng cho Triệt Lộ Không Vong trong lá số Tử Vi…
Tại sao lại có Triệt Lộ Không Vong (截路空亡)?
Triệt (截) = cắt, chặn…
Lộ (路) = đường
Không (空) = trống rỗng
Vong (亡) = biến mất, che khuất…
Triệt Lộ Không Vong trước tiên áp dụng cho ngày, nhưng trong Tử Vi áp dụng cho năm…
Sách “Lịch Lệ” (歴例) chép về Triệt Lộ Không Vong như sau:
– Ngày Giáp/Kỉ rơi vào giờ Thân-Dậu (Nhâm Thân, Quý Dậu).
– Ngày Ất/Canh rơi vào giờ Ngọ-Mùi (Nhâm Ngọ, Quý Mùi).
– Ngày Bính/Tân rơi vào giờ Thìn-Tị (Nhâm Thìn, Quý Tị).
– Ngày Đinh/Nhâm rơi vào giờ Dần-Mão (Nhâm Dần, Quý Mão).
– Ngày Mậu/Quý rơi vào giờ Tí-Sửu (Nhâm Tí, Quý Sửu) và Tuất-Hợi (Nhâm Tuất, Quý Hợi).
Sách “Khảo Nguyên” (攷原) giải thích: “Triệt Lộ Không Vong là khi gặp Can Nhâm-Quý. Đi đường mà gặp nước (Thuỷ) thì không thể đi tiếp được. Ví dụ như ngày Giáp hoặc Kỉ, dùng phép Ngũ Tí Độn (五䑕遁) bắt đầu bằng Giáp Tí, đếm thuận theo lịch sẽ tới giờ Nhâm Thân, Quý Dậu. Cho nên ngày Giáp/Kỉ lấy cung Thân-Dậu làm Triệt Lộ Không Vong. Các Can ngày khác cũng tính tương tự.”
Ngũ Tí Độn có 5 điểm khởi Tí (theo thứ tự 60 cặp Can Chi):
→ Giáp Tí, Ất Sửu, Bính Dần, Đinh Mão, Mậu Thìn, Kỉ Tị, Canh Ngọ, Tân Mùi, Nhâm Thân, Quý Dậu, Giáp Tuất, Ất Hợi;
→ Bính Tí, Đinh Sửu, Mậu Dần, Kỉ Mão, Canh Thìn, Tân Tị, Nhâm Ngọ, Quý Mùi, Giáp Thân, Ất Dậu, Bính Tuất, Đinh Hợi;
→ Mậu Tí, Kỉ Sửu, Canh Dần, Tân Mão, Nhâm Thìn, Quý Tị, Giáp Ngọ, Ất Mùi, Bính Thân, Đinh Dậu, Mậu Tuất, Kỉ Hợi;
→ Canh Tí, Tân Sửu, Nhâm Dần, Quý Mão, Giáp Thìn, Ất Tị, Bính Ngọ, Đinh Mùi, Mậu Thân, Kỉ Dậu, Canh Tuất, Tân Hợi;
→ Nhâm Tí, Quý Sửu, Giáp Dần, Ất Mão, Bính Thìn, Đinh Tị, Mậu Ngọ, Kỉ Mùi, Canh Thân, Tân Dậu, Nhâm Tuất, Quý Hợi;
Triệt luôn chỉ đóng ở các cung Nhâm-Quý. Đây là cặp Thiên Can cuối cùng của mỗi vòng tuần hoàn 10 Thiên Can. Tức là, “khí” đến đây là đã tới chỗ cực hạn. Theo cách nói dân gian, Nhâm-Quý thuộc Thuỷ nên tượng như là người đang đi đường thì gặp nước, đường bị chặn lại mà không có cây cầu… Do đó, Triệt có tính kết thúc, ngắt quãng, cắt đứt…
Triệt Lộ Không Vong còn được gọi là Triệt Lộ Đoạn Kiều (截路断桥). Ban đầu lấy tên là Triệt Lộ Đoạn Kiều để gọi, về sau cái tên Đoạn Kiều (断桥) bị thất truyền và thường dùng Không Vong để gọi tên.
Đoạn (断) = chặt đứt, đứt đoạn…
Kiều (桥) = cây cầu…
Triệt Lộ Không Vong cũng được ghi chép trong sách “Thần Sát Khởi Lệ” (神煞起例). Dùng Ngũ Tí Độn lấy Can của ngày để độn Chi (tức là xem giờ Địa Chi đó mang Can gì để xác định ý nghĩa):
– Gặp Giáp-Ất: không cát không hung.
– Gặp Bính-Đinh: là Hỉ Thần (喜神).
– Gặp Mậu-Kỉ: là Ngũ Quỷ (五鬼).
– Gặp Canh-Tân: là Kim Thần (金神).
– Gặp Nhâm-Quý: là Triệt Lộ Không Vong (截路空亡).
Trong Tử Vi, Triệt Lộ Không Vong vận hành như thế nào?
Triệt vận hành như sau:
– Năm Giáp/Kỉ ở cung Thân-Dậu (Nhâm Thân, Quý Dậu).
– Năm Ất/Canh ở cung Ngọ-Mùi (Nhâm Ngọ, Quý Mùi).
– Năm Bính/Tân ở cung Thìn-Tị (Nhâm Thìn, Quý Tị).
– Năm Đinh/Nhâm ở cung Dần-Mão (Nhâm Dần, Quý Mão).
– Năm Mậu/Quý ở cung Tí-Sửu (Giáp Tí, Ất Sửu).
(Theo năm sinh hay năm hạn đều an như vậy.)
Triệt lùi 2 cung sau mỗi cặp Thiên Can Ngũ Hợp:
Thân-Dậu → Ngọ-Mùi → Thìn-Tị → Dần-Mão → Tí-Sửu
Do đó, Triệt chỉ phủ được 10 cung và không bao giờ đóng tại Tuất-Hợi.
Triệt vận hành theo chu kì 5 năm (60 tháng). Nhưng do tháng khởi từ Dần chứ không phải từ Tí như Ngũ Tí Độn, cho nên riêng đối với năm Mậu/Quý thì Triệt lại rơi vào cung tháng Giáp-Ất (Giáp Tí, Ất Sửu) chứ không phải Nhâm-Quý.
Nếu Triệt vận hành theo chu kì 60 tháng… thì Tuần vận hành theo chu kì 60 năm… Triệt thiên về tháng, còn Tuần thiên về năm…
Nói về Tuần Trung Không Vong (旬中空亡)…
Lịch pháp cổ đại lấy 10 Thiên Can kết hợp với 12 Địa Chi tạo thành 60 cặp Can Chi từ Giáp Tí đến Quý Hợi. Trong đó, cứ 10 cặp từ Giáp→Quý gọi là Tuần. Vì số lượng Địa Chi nhiều hơn Thiên Can 2 vị trí, cho nên 2 Địa Chi không được bắt cặp sẽ tạo thành Tuần Trung Không Vong.
Trong chữ Tuần (旬) có bộ Nhật (日)… Tuần bắt nguồn từ ngày và cũng được áp dụng cho năm. Thời cổ đại, 1 tuần là 10 ngày chứ không phải 7 ngày. Và 1 tháng 30 ngày có Thượng tuần (1-10), Trung tuần (11-20), Hạ tuần (21-30).
Tuy nhiên, Tuần cũng có thể ám chỉ 10 năm. Ví dụ như nói “trạc ngoại TỨ TUẦN” (Truyện Kiều) có nghĩa là khoảng ngoài 40 tuổi. Cho nên có thể nói chung về Tuần là một giai đoạn 10 đơn vị. Đơn vị đó có thể là ngày, hoặc năm…
Tuần Trung Không Vong còn gọi là Lục Giáp Không Vong (六甲空亡). Ta có 6 Tuần (tương ứng với 60 năm) như sau:
→ Tuần Giáp Tí: Giáp Tí, Ất Sửu, Bính Sửu, Đinh Mão, Mậu Thìn, Kỉ Tị, Canh Ngọ, Tân Mùi, Nhâm Thân, Quý Dậu;
→ Tuần Giáp Tuất: Giáp Tuất, Ất Hợi, Bính Tí, Đinh Sửu, Mậu Dần, Kỉ Mão, Canh Thìn, Tân Tị, Nhâm Ngọ, Quý Mùi;
→ Tuần Giáp Thân: Giáp Thân, Ất Dậu, Bính Tuất, Đinh Hợi, Mậu Tí, Kỉ Sửu, Canh Dần, Tân Mão, Nhâm Thìn, Quý Tị;
→ Tuần Giáp Ngọ: Giáp Ngọ, Ất Mùi, Bính Thân, Đinh Dậu, Mậu Tuất, Kỉ Hợi, Canh Tí, Tân Sửu, Nhâm Dần, Quý Mão;
→ Tuần Giáp Thìn: Giáp Thìn, Ất Tị, Bính Ngọ, Đinh Mùi, Mậu Thân, Kỉ Dậu, Canh Tuất, Tân Hợi, Nhâm Tí, Quý Sửu;
→ Tuần Giáp Dần: Giáp Dần, Ất Mão, Bính Thìn, Đinh Tị, Mậu Ngọ, Kỉ Mùi, Canh Thân, Tân Dậu, Nhâm Tuất, Quý Hợi;
Tuần Không là 2 Địa Chi bị khuyết sau khi đã ghép đủ 10 cặp Can Chi cho một Tuần:
– Tuần Giáp Tí khuyết 2 Chi Tuất-Hợi.
– Tuần Giáp Tuất khuyết 2 Chi Thân-Dậu.
– Tuần Giáp Thân khuyết 2 Chi Ngọ-Mùi.
– Tuần Giáp Ngọ khuyết 2 Chi Thìn-Tị.
– Tuần Giáp Thìn khuyết 2 Chi Dần-Mão.
– Tuần Giáp Dần khuyết 2 Chi Tí-Sửu.
Tuần Không lùi 2 cung sau mỗi 10 năm:
Tuất-Hợi → Thân-Dậu → Ngọ-Mùi → Thìn-Tị → Dần-Mão → Tí-Sửu
Chu kì của Tuần lặp lại mỗi 60 năm và phủ được 12 cung.
Tuần Triệt và Âm Dương của cung tương tác như thế nào?
Trong 2 Địa Chi thuộc Tuần Triệt, sẽ luôn có một Chi Dương và một Chi Âm.
Tuần Không có sự phân biệt giữa Chính Không (正空) và Bàng Không (旁空). Chính Không là cùng thuộc tính Âm Dương với năm sinh. Bàng Không là khác thuộc tính Âm Dương với năm sinh. Chính Không có sức ảnh hưởng lớn hơn Bàng Không.
Theo cổ pháp, Triệt Lộ Không Vong ở cung Dương gọi là Triệt Lộ (截路), cung Âm gọi là Không Vong (空亡). Người sinh năm Dương lấy Triệt Lộ ở cung Dương làm chủ, sức ảnh hưởng khá lớn. Người sinh năm Âm lấy Không Vong ở cung Âm làm chủ, sức ảnh hưởng khá lớn.
Một số quan điểm về Tuần Triệt…
Có quan điểm cho là Triệt mang hành Thuỷ vì liên hệ với Nhâm-Quý. Còn có quan điểm cho là Tuần hành Hoả, Triệt hành Kim cũng chỉ vì câu phú “Tuần lâm Hoả địa, Triệt đáo cung Kim”…
Và cũng không thể vì Triệt có tính cắt đứt mà coi Triệt là vật sắc bén mang hành Kim, cho dù có hình tượng “Tướng gặp Triệt như Tướng mất đầu”… Ngôn từ còn có tính biểu tượng, ẩn dụ… không thể chỉ theo nghĩa đen mà suy luận. Có những ví von giàu hình tượng chỉ là để giúp dễ hình dung và ghi nhớ.
Tuần Triệt mà có Ngũ Hành thì tương tác với các chính/phụ tinh ra sao?… Vậy thì có cần thiết phải gượng ép một hành cụ thể cho Tuần Triệt không?… Nếu không thì Tuần Triệt không sinh/khắc bất cứ cái gì, mà áp chế tất cả sao và cung không hề thiên vị…
Các nhận định về Ngũ Hành của Tuần Triệt hoàn toàn đâu có đến từ cổ thư, mà có tính “sáng tác” hoặc suy diễn chỉ gây thêm mâu thuẫn khi luận giải.
Và cả quan điểm Tuần Triệt sau 30 tuổi…
Người xưa coi trọng cung Mệnh, Tuần Triệt đóng ở cung Mệnh (đại vận 1, 2) thì mạnh ở giai đoạn đầu đời, qua đại vận đó thì phải yếu đi chứ không mất đi. Không đóng ở đại vận Mệnh tại sao qua giai đoạn đầu đời lại yếu đi được?… Qua 30 tuổi mà bước vào đại vận có Tuần Triệt thì không cần tính đến nữa sao?… Cần phân biệt, Tuần Triệt và các sao an cố định theo thời điểm sinh không thể có tính chất “thời hạn” như các sao Lưu… Các “năng lượng” này là nền tảng xuyên suốt cuộc đời và “cộng hưởng” với các vận hạn…
Nói về thời gian trong Tử Vi…
Mỗi một cung trên lá số mang một thông tin tổng quan… nhưng chính cung đó cũng là một đại vận… lại cũng vừa là một tiểu vận… và còn là vận theo từng tháng, ngày, giờ… Cái lớn chứa đựng cái nhỏ. Cái nhỏ lại mang thông tin cái lớn. Cái lớn và cái nhỏ không khác nhau. Mỗi cung giờ, cung ngày, cung tháng, cung năm… không khác nhau, tất cả chung vào một. Và từ một lại chia cắt thành nhiều… một năm thành nhiều tháng, một tháng thành nhiều ngày, một ngày thành nhiều giờ… đã tạo ra các “lát cắt” biểu diễn cho sự vận động của thời gian… Sự tồn tại của thời gian được biểu diễn bằng sự phân chia, nhưng luôn trong mối quan hệ thống nhất…
Từ đó, có thể vẽ ra mô hình cho dòng chảy cuộc đời một con người… Và nếu như ngay cả cuộc đời ấy cũng chỉ là một “lát cắt” từ thời gian vô tận… tạo ra vô số cuộc đời, vô số lá số… Trong đó, mỗi cuộc đời như một nút thắt trong cái mạng lưới nhân duyên kết nối tất cả… Trong sự thống nhất đó, quá khứ và tương lai đều thuộc về một thứ…