Nỗi sợ đến từ việc ta coi trọng thân xác này và các điều kiện thuận lợi cho nó, ta không muốn để bản thân rơi vào những rắc rối. Ta không thể tĩnh lặng trong rắc rối, ta chỉ có thể tĩnh lặng khi một mình và trong vòng tròn an toàn của mình. Nhưng khi bước ra khỏi vòng tròn đó ta trở nên bối rối và sợ hãi. Ta trốn thoát khỏi sợ hãi bằng cách làm cho người khác sợ hãi. Nếu không có ai đó sợ hãi thì ta sẽ trở nên sợ hãi.
Sự an toàn là chạy trốn, chạy trốn là sợ hãi. Càng ở vùng an toàn ta càng cảm thấy sợ hãi. Không sợ hãi không tồn tại ở nơi nào mà được cho là an toàn. Hành trình đi tìm nơi trú ẩn là hành trình nuôi dưỡng sợ hãi. Sự an toàn không thể nhận ra chính nó, ở trong vùng an toàn ta chỉ có thể nhìn thấy những điều đáng sợ đang bao vây mình.
Ta đang sống bằng các suy nghĩ, và bản chất của chúng ta chính là những suy nghĩ ấy. Suy nghĩ không thể tồn tại trong sự trống rỗng, nó cần nguyên liệu là kí ức. Suy nghĩ không thể vận hành khi đối mặt với những điều chưa biết hoặc không thể nhớ lại, điều này khiến nó trở nên bối rối. Suy nghĩ chỉ có thể dựa trên những dữ liệu đã biết, cái đã biết gặp cái không biết sẽ sinh ra nỗi sợ.
Trải nghiệm hiện tại tạo ra quá khứ, trải nghiệm với quá khứ tạo ra ảo tưởng về tương lai. Ảo tưởng về tương lai là kinh nghiệm lặp lại từ quá khứ, nỗi sợ tương lai cũng là nỗi sợ quá khứ. Ta sợ tương lai nên luôn phải có sự chuẩn bị. Rủi ro đến từ cái không biết, nếu không phán đoán được tương lai, rủi ro sẽ xuất hiện.
Thực ra, nỗi sợ là quá khứ, ta sợ cái không biết vì đã từng gặp nó nhiều lần. Ta đã từng phải nhận hậu quả vì thiếu hiểu biết. Cái không biết là cũ kĩ, nó không phải cái mới lạ, vì cái mới lạ chưa xuất hiện. Cái không biết không phải tương lai, nó chỉ là một trạng thái để bù lấp vào khoảng trống của tương lai. Nỗi sợ luôn đến từ kí ức, nên nỗi sợ sau luôn lớn hơn nỗi sợ trước, nỗi sợ lặp lại luôn rõ ràng hơn.
Nguyên nhân của sợ hãi là kí ức. Kí ức về đau khổ đã qua và nhận định về sự tái diễn của nó làm cho con người sợ hãi về tương lai. Người nào chưa từng đau khổ thì không sợ hãi.
Ta suy nghĩ về những gì sắp xảy ra và cảm thấy sợ hãi. Tương lai là phán đoán dựa trên quá khứ, tương lai luôn cũ kĩ. Ta có khả năng ghi nhớ nên ta biết sợ hãi. Đó là cái giá của kinh nghiệm, càng nhiều kinh nghiệm càng nhiều sợ hãi.
Có một nỗi sợ không đến từ bạo lực, mà đến từ quyền lực mềm (qua giọng điệu, thái độ). Nó mang mối nguy tiềm ẩn và có thể gây hại lâu dài trong tương lai. Bản chất nỗi sợ là tương lai nên nó duy trì sợ hãi bằng những gì chưa xảy ra.
Đôi khi, ta không sợ một kẻ bộc trực, mà sợ một kẻ xấu tính sau này. Khác với một cuộc đối đầu bạo lực (nơi sự căng thẳng lên cao và sau đó giảm xuống), kiểu sợ hãi này tạo ra một sự căng thẳng liên tục, âm ỉ. Nó giống như một tiếng ồn nền khó chịu không bao giờ dứt, khiến tâm trí luôn trong tình trạng “chiến đấu hay bỏ chạy” ở mức độ thấp, dẫn đến kiệt sức về tinh thần và thể chất. Việc phải liên tục “cảnh giác” trước một mối nguy chưa xảy ra nhưng có khả năng cao sẽ xảy ra này là cực kì mệt mỏi.
Mối đe doạ không bao giờ được hiện thực một cách rõ ràng, nhưng luôn được ngụ ý. Sự mơ hồ về khi nào, ở đâu và bằng cách nào mối đe doạ sẽ thành hiện thực khiến nạn nhân luôn ở trong trạng thái cảnh giác cao độ, tự hỏi và tự kiểm duyệt bản thân. Họ tự đầu độc tâm trí mình bằng những viễn cảnh tồi tệ nhất. Sức mạnh huỷ hoại của nó nằm ở chỗ nó bắt nạn nhân phải tự tra tấn chính mình bằng những dự đoán tiêu cực về một tương lai bất định. Việc nhận diện và gọi tên được nỗi sợ này là bước đầu tiên quan trọng để vô hiệu hoá sức mạnh của nó.
Có những nỗi sợ xuất hiện bởi vì điều gì đó chắc chắn sẽ xảy ra. Điều ta cần làm không phải là tìm cách xua tan nó khỏi tâm trí, vì nó vốn không phải một làn khói ảo tưởng, điều duy nhất ta có thể làm trước hiện thực là đón nhận nó. Luôn có lí do và cơ sở để sợ một điều gì đó, nỗi sợ không sai. Vấn đề là ta không muốn nỗi sợ tồn tại và kìm nén nỗi sợ. Điều đó khiến nỗi sợ trở nên xấu tính và khiến ta đau khổ. Hãy coi ta là nỗi sợ, để nỗi sợ tự do thì ta cũng sẽ tự do.
Khi các giác quan tiếp nhận một dấu hiệu, suy nghĩ sẽ phản ứng với nó bằng cách lục tìm lại những kí ức tương đồng nhất và đem ra đối chiếu với sự kiện mới. Nếu kí ức đó không tốt đẹp, suy nghĩ sẽ nhận định có sự nguy hiểm và sinh ra trạng thái sợ hãi.
Không sợ hãi không phải là bạo dạn, bạo dạn chỉ là đang kìm nén sợ hãi. Không sợ hãi nghĩa là nhận ra mong muốn chạy trốn. Khi nhận ra mong muốn chạy trốn thì ta đã tách ra khỏi nó.
“Bạn không thể sợ hãi điều chưa biết, bởi bạn không biết điều chưa biết là gì. Vì vậy, thực sự không có gì để sợ hãi. Chết chỉ là một từ, và chính từ ngữ cùng hình ảnh đó tạo nên nỗi sợ.”
– Krishnamurti –