Nói về Cục số trong Tử Vi…
Ngũ Hành của Cục xác định như thế nào?
Mệnh và Cục đều dùng chung hệ quy chiếu là 60 cặp Can Chi của Lục Thập Hoa Giáp. Nhưng Mệnh khởi từ Tí, còn Cục khởi từ Dần. Mệnh thiên về năm, Cục thiên về tháng (vì tháng Dần là tháng đầu tiên của chu kì tháng).
Từ cặp Can Chi của năm sinh cho ra Ngũ Hành Nạp Âm của Mệnh. Từ cặp Can Chi của cung Mệnh cho ra Ngũ Hành Nạp Âm của Cục.
Ngũ Hành của Cục được xác định dựa vào cặp Can Chi cung Mệnh. Ta chỉ cần đối chiếu cặp Can Chi đó với Lục Thập Hoa Giáp là ra Ngũ Hành Nạp Âm của Cục.
Trước đó thì cặp Can Chi cung Mệnh phải được xác định bằng Ngũ Hổ Độn. Khi đã biết cung Mệnh ở Chi nào rồi thì Can của cung Mệnh sẽ được đếm từ Ngũ Hổ Độn…
Ví dụ: Người sinh năm Mậu hay Quý khởi ở cung Giáp Dần. Nếu cung Mệnh ở Ngọ thì từ Giáp Dần đếm đến Ngọ là Mậu Ngọ. Ta sẽ lấy theo Ngũ Hành Nạp Âm của Mậu Ngọ là Hoả. Hành Hoả nên sẽ là Lục Cục.
Như vậy, ta cần xác định được Ngũ Hành Nạp Âm trước, rồi sau đó con số Cục sẽ lấy mặc định theo Nạp Âm đó.
Bây giờ nói về các phép tính với Cục số trong Tử Vi…
Ngũ Hành Nạp Âm của Cục được gán cho các con số cố định:
Gán số 2 cho Thuỷ Cục
Gán số 3 cho Mộc Cục
Gán số 4 cho Tứ Cục
Gán số 5 cho Ngũ Cục
Gán số 6 cho Lục Cục
(Hoả Cục là 6 chứ không phải 2-7, Thuỷ Cục là 2 chứ không phải 1-6, đó không phải là nhầm lẫn. Cục số vốn không mang ý nghĩa phương vị giống như Hà Đồ.)
Như vậy, con số trước hết là “mã” của Ngũ Hành, sau đó mới được dùng cho “phép chia ngày” để an sao Tử Vi và tính đại vận. Các “bước nhảy” theo Cục số khác nhau thì toạ độ số mệnh trên dòng thời gian cũng tịnh tiến khác nhau.
(Phép chia ngày là cách lấy ngày sinh chia cho Cục số, kết quả có được là số bước đếm từ cung Dần đến vị trí an sao Tử Vi. Nếu không chia hết thì mượn thêm số “ảo” để tính ra kết quả, sau đó hoàn trả lại số bước đã mượn. Đây chỉ là phép toán để nhẩm nhanh khi an sao.)
Can của cung Mệnh được xác định bằng Ngũ Hổ Độn (khởi từ Dần). Do đó, Cục số cũng phải khởi từ Dần. Ví dụ, đại vận cung Mệnh bắt đầu từ 6 tuổi (tức là Lục Cục) thì 6 cũng phải khởi từ Dần.
Ta biết rằng, chính tinh được an từ Cục và ngày sinh…
Cục số vận hành trên 12 cung (để an sao Tử Vi) như sau:
– Nhị Cục: ngày 2 luôn ở Dần, các cung tiếp theo tịnh tiến +2
– Tam Cục: ngày 3 luôn ở Dần, các cung tiếp theo tịnh tiến +3
– Tứ Cục: ngày 4 luôn ở Dần, các cung tiếp theo tịnh tiến +4
– Ngũ Cục: ngày 5 luôn ở Dần, các cung tiếp theo tịnh tiến +5
– Lục Cục: ngày 6 luôn ở Dần, các cung tiếp theo tịnh tiến +6
(Nếu áp dụng Nhất Cục sẽ trùng cách đếm với các sao ngày.)
Sao Tử Vi được xác định dựa trên ngày sinh và Cục số (con số gán cố định theo Ngũ Hành Nạp Âm). Dù có những người sinh vào cùng một ngày, nhưng nếu Cục mang Nạp Âm khác nhau thì vị trí an sao Tử Vi sẽ nằm ở cung khác nhau. Điều này làm tăng thêm biến số cho các cách cục trong Tử Vi.
Phân tích chi tiết một Cục số, ví dụ với Tứ Cục như sau…
Tập hợp 30 ngày trong tháng được chia đều thành 4 dãy số, mỗi số trong dãy cách nhau đúng 4 đơn vị:
Dãy 1 bắt đầu từ ngày 1: 1, 5, 9, 13, 17, 21, 25, 29
Dãy 2 bắt đầu từ ngày 2: 2, 6, 10, 14, 18, 22, 26, 30
Dãy 3 bắt đầu từ ngày 3: 3, 7, 11, 15, 19, 23, 27
Dãy 4 bắt đầu từ ngày 4: 4, 8, 12, 16, 20, 24, 28
Tứ Cục có 4 dãy. Các Cục còn lại cũng tương tự: Nhị thì 2 dãy, Tam thì 3 dãy, Ngũ thì 5 dãy, Lục thì 6 dãy.
Nếu ngày 4 luôn bắt đầu ở Dần thì các ngày 3, 2, 1 bắt đầu ở cung nào?
Xin trả lời là theo quy tắc “chẵn tiến – lẻ lùi” (tính theo chiều kim đồng hồ). Quy tắc này cũng áp dụng tương tự với Nhị Cục, Tam Cục, Ngũ Cục và Lục Cục.
Đối với Tứ Cục, áp dụng cụ thể như sau…
Từ mốc số 4, ta sẽ tìm ra vị trí của các số 3, 2, 1:
Dãy 4 thì 4 – 4 = 0 → Đứng yên ở Dần.
Dãy 3 thì 4 – 3 = 1 → Số lẻ nên ngày 3 lùi 1 cung.
Dãy 2 thì 4 – 2 = 2 → Số chẵn nên ngày 2 tiến 2 cung.
Dãy 1 thì 4 – 1 = 3 → Số lẻ nên ngày 1 lùi 3 cung.
Các Cục số khác áp dụng tượng tự…
Câu hỏi: Tại sao lại có quy tắc “chẵn tiến – lẻ lùi”? Tại sao các ngày bắt đầu lộ trình của Tứ Cục (4, 3, 2, 1) không cho tiến hết hoặc lùi hết? Tức là sắp xếp lần lượt 4 ở Dần, 3 ở Sửu, 2 ở Tí, 1 ở Hợi…
Vẫn ở ví dụ Tứ Cục… Bởi vì, nếu làm như vậy 4 dãy số sẽ gối đầu vào nhau theo 4 cung liên tiếp. Điều này làm cho hai cung Dậu Tuất luôn bị trống ngày sinh. Sao Tử Vi sẽ không bao giờ xuất hiện ở hai cung Dậu Tuất.
Cho nên nếu chỉ lùi lại hoặc chỉ tiến lên theo lẽ thông thường, các ngày sinh sẽ dồn về một phía của địa bàn, và sẽ có những ô luôn bị khuyết ngày sinh. Và những ô bị khuyết này sẽ dẫn đến sự khuyết thiếu một số cách cục.
Tức là, các vị trí an sao Tử Vi sẽ bị co cụm lại ở một số cung và để trống các cung khác. Sao Tử Vi sẽ không được xuất hiện đủ ở cả 12 cung.
Tại sao quy tắc “chẵn tiến – lẻ lùi” lại giúp các ngày sinh phân phối đều ra các cung?
Là vì…
Ví dụ Tứ Cục:
Bắt đầu từ Dần…
Ngày 1 lùi 3
Ngày 2 tiến 2
Ngày 3 lùi 1…
Theo ví dụ trên thì ngày 1 và ngày 2 sẽ chạy về hai phía khác nhau của địa bàn. Điều này sẽ tạo ra các “bước nhảy” xa nhau (tối đa) giúp cho việc “phân phối đồng đều”. Các dãy số ngày sinh sẽ được toả ra tối đa.
Quy tắc “chẵn tiến – lẻ lùi” là để giải quyết vấn đề Cục số khi an sao Tử Vi, không phải lí do dẫn đến Cục số. Mục đích của quy tắc “chẵn tiến – lẻ lùi” chỉ là để phân phối đồng đều ngày sinh.
Tóm lại, cần phải có một quy tắc mà không có cung nào luôn trống không. Và với quy tắc “chẵn tiến – lẻ lùi” sẽ có thể phân tán quỹ đạo cho Tử Vi.
Lại có một câu hỏi: Tại sao là “chẵn tiến – lẻ lùi” mà không phải là “lẻ tiến – chẵn lùi”?
Ta sẽ thấy:
– Cục số chẵn thì ngày chẵn tiến, còn ngày lẻ lùi.
– Cục số lẻ thì ngày lẻ tiến, còn ngày chẵn lùi.
Tức là:
– Cục chẵn thì ngày chẵn có lợi.
– Cục lẻ thì ngày lẻ có lợi.
Tóm lại, lấy cung Dần làm chuẩn:
– Cùng tính thì tiến. Là đi nhanh.
– Khác tính thì lùi. Là đi trễ.
So sánh Cục số trong Tử Vi và Tử Bình…
Tử Vi có 5 Cục cố định và lấy số của Cục làm tuổi khởi đại vận. Ngũ Hành Cục gán cố định với các mốc 2, 3, 4, 5, 6. Đó là các trạng thái độc lập không gắn với thứ tự Nạp Âm hoặc thứ tự sinh/khắc thông thường.
Tử Vi chỉ có 2, 3, 4, 5, 6 là tuổi khởi đại vận. Nhưng trong Tử Bình hoàn toàn có thể khởi vận trên 6 tuổi và dưới 2 tuổi. Cục số trong Tử Bình được xác định từ một “điểm rơi” (ngày giờ sinh) trong các đại vận cố định 10 năm. Do đó, nó có đủ số từ 0→10.
Tử Bình dựa trên khoảng cách từ ngày giờ sinh tới ngày giờ của tiết khí để tính ra tuổi khởi đại vận khá chính xác. Ví dụ, 8 tuổi 1 tháng 20 ngày là một mốc khởi vận khá chính xác. Thậm chí có thể tính đến 10 tuổi khởi đại vận. Hai cách tính và hai tập giá trị của Tử Vi và Tử Bình không tương đương nhau.
Cục số trong Tử Bình được tính như thế nào?
Trong 24 tiết khí, mỗi tháng khí pháp sẽ có một “tiết” (節) và một “trung khí” (中氣) xen kẽ nhau.
Chẳng hạn:
→ Lập Xuân (節)
→ Vũ Thuỷ (中氣)
→ Kinh Trập (節)
→ Xuân Phân (中氣)
…
“Tiết” (節) là thời gian mở đầu của tháng khí đó. Tử Bình dùng “tiết” để tính Cục.
Các tháng và “tiết” mở đầu:
Tháng 1 (Giêng): Dần – Lập Xuân
Tháng 2: Mão – Kinh Trập
Tháng 3: Thìn – Thanh Minh
Tháng 4: Tị – Lập Hạ
Tháng 5: Ngọ – Mang Chủng
Tháng 6: Mùi – Tiểu Thử
Tháng 7: Thân – Lập Thu
Tháng 8: Dậu – Bạch Lộ
Tháng 9: Tuất – Hàn Lộ
Tháng 10: Hợi – Lập Đông
Tháng 11: Tí – Đại Tuyết
Tháng 12 (Chạp): Sửu – Tiểu Hàn
(Lưu ý: Ngày và giờ chính xác của các “tiết” trong một năm cụ thể cần lấy theo các loại lịch vạn niên, vì không có con số cố định qua từng năm. Ngày giờ của các “tiết” thường không phải ở đúng ngày đầu tháng, mà luôn lệch đi một số ngày nhất định.)
Cách tính như sau…
Bước 1: Xét Âm Dương để xem thuận lí hay nghịch lí:
(Ví dụ: Người nam có Can hoặc Chi của tuổi là Dương Can hoặc Dương Chi thì sẽ là Dương nam. Nếu là nữ thì sẽ là Dương nữ.)
Lấy ngày và giờ sinh để ấn định tính năm khởi đại vận. Thuận thì đếm tới “tiết” sắp tới, nghịch thì đếm về “tiết” đã qua. Một năm có 12 “tiết” (節) và 12 “trung khí” (中氣), nhưng ở đây chỉ dùng “tiết” để tính.
Tức là:
– Dương nam, Âm nữ: Tính thuận, lấy ngày giờ lúc sinh làm mốc, rồi tính thuận đến ngày giờ của “tiết” sau đó đếm xem được mấy ngày, mấy giờ…
– Dương nữ, Âm nam: Tính ngược lại, lấy ngày giờ lúc sinh làm mốc, rồi tính ngược lại đến ngày giờ của “tiết” trước đó xem được mấy ngày, mấy giờ…
Bước 2: Ngày sinh và ngày “tiết” không tính, chỉ tính số giờ.
Bước 3: Sau khi đếm số ngày và giờ xong lại tính tiếp. Lấy 3 ngày tính là 1 tuổi, 1 ngày tính là 4 tháng, 1 giờ tính là 10 ngày thì sẽ ra được số tuổi khởi đại vận.
Cổ nhân quy ước rằng, sự luân chuyển trọn vẹn 1 tháng (30 ngày) mang năng lượng tương đương với 1 chặng đường tuần hoàn lớn của đời người, đó là 1 đại vận kéo dài 10 năm. Mỗi đại vận được quy ước bằng ngày sinh: 30 ngày = 10 năm. Lấy 30 ngày chia cho 10 ta được 3 ngày = 1 năm (1 tuổi).
Tại sao 1 ngày tính là 4 tháng?
Khi đã tính toán xong đến bước cuối, trong trường hợp số ngày đếm được không chia hết cho 3 (bị lẻ ngày, chính là số dư), người ta tiếp tục chia nhỏ ra…
Ta đã biết 3 ngày = 1 năm và 1 năm lại có 12 tháng. Tức là 3 ngày = 12 tháng. Lấy 12 tháng chia cho 3 ta được 4 tháng. Vậy là ta có 1 ngày = 4 tháng.
Kết luận: Cứ 1 ngày dư ra sẽ tương đương với 4 tháng thời gian cuộc đời của con người.
Tại sao 1 giờ tính là 10 ngày?
1 ngày theo lịch truyền thống được chia làm 12 giờ (Tí, Sửu, Dần…). 1 ngày = 4 tháng. Và 4 tháng tương đương với 120 ngày. Lấy 120 ngày chia cho 12 giờ ta được 10 ngày.
Kết luận: Cứ 1 giờ Địa Chi bị lẻ ra sẽ được tính là 10 ngày để cộng thêm vào thời điểm khởi vận.
– VÍ DỤ 1:
1/ Người nam sinh giờ Dậu ngày 23 tháng 1 (tháng Dần) năm Đinh Mão (Âm nam). Từ ngày giờ sinh tính ngược đến “tiết” trước đó (Lập Xuân) thì dừng, cộng xem số ngày giờ là bao nhiêu.
2/ Ngày sinh: giờ Dậu 23 tháng 1. Lập Xuân: giờ Thân ngày 7 tháng 1.
Ghi chú:
– 12 cung tương ứng với 12 đại vận (10 năm). Thời điểm sinh luôn rơi vào một điểm trên các giai đoạn 10 năm đó. Từ toạ độ ngày giờ sinh ta sẽ phải xác định xem còn bao nhiêu ngày giờ nữa (về sau sẽ được quy đổi) sẽ bắt đầu “tiết” tiếp theo (đại vận tiếp theo).
– Mỗi cung tháng (cũng chính là mỗi đại vận 10 năm) sẽ gồm 2 tiết khí: 1 “tiết” (節) và 1 “trung khí” (中氣). Lấy “tiết” (節) làm các ranh giới. Với người thuận lí thì đại vận đầu đời chính là đại vận tiếp theo tính theo chiều thuận. Vì vòng vận chạy theo chiều thuận. Và Cục sẽ tính từ ngày giờ sinh của đương số cho đến “tiết” của tháng gần nhất theo chiều thuận. Người nghịch lí thì tính theo chiều ngược lại. Ví dụ, ở một toạ độ trong đại vận Dần, “tiết” mở đầu là Lập Xuân, nếu đi thuận thì đến Kinh Trập, nếu đi nghịch thì về phía Lập Xuân. Cách tính thì theo phần quy đổi ở trên.
3/ Từ mục 2, ta tính số giờ: Ngày sinh và ngày “tiết” không tính cả ngày, mà chỉ tính số giờ hôm đó. Lập Xuân giờ Thân (từ giờ Thân tính đến hết ngày là giờ Tí) hôm đó được 4 giờ. Tương tự với ngày giờ sinh, hôm đó sinh vào giờ Dậu (từ đầu ngày là giờ Tí tính đến giờ Dậu) hôm đó được 9 giờ. Tổng giờ của ngày sinh và ngày “tiết” cộng lại là 9+4=13 giờ.
4/ Từ mục 2, ta tính số ngày: Ngày đầu và cuối không tính thì 23 ngày trừ đi 1 ngày (trừ 1 ngày chính là ngày cuối), lại trừ tiếp đi 7 ngày còn 15 ngày (ngày đầu đã có trong 7 ngày). Còn số giờ của ngày sinh và ngày “tiết” tính ở mục 3 sẽ được cộng bù lại sau, như vậy mới ra khoảng thời gian chính xác tương ứng với Cục.
(Ngày đầu và ngày cuối là đang nói ngày sinh và ngày “tiết”.)
(Lấy 23 ngày trừ đi 7 ngày đầu tháng của tháng Dần vì Cục chỉ tính từ ngày 7 của Lập Xuân đến ngày sinh. Trong khi ngày sinh đang tính cả từ đầu tháng. Tức là, 23 ngày là tính từ ngày 1 chứ không bắt đầu từ ngày 7 nên phải trừ đi 7 mới ra đúng số ngày của giai đoạn tương ứng với Cục. Chú ý là ở ví dụ này đang tính theo chiều nghịch.)
(12 “tiết” (節) là các mốc gần với ngày bắt đầu của 12 tháng Địa Chi, cho nên lấy làm ranh giới của Cục cho 12 tháng Địa Chi.)
5/ Từ mục 4, lấy 15 ngày chia cho 3 (vì quy ước 3 ngày tính là 1 tuổi) để ra được số tuổi khởi đại vận là 5 tuổi. Còn 13 giờ (mục 3) thì tính là 130 ngày (tức là 4 tháng 10 ngày). Cộng tất cả lại là được 5 tuổi 4 tháng 10 ngày. Như vậy là thời gian của Cục đã được tính cụ thể đến từng ngày.
– VÍ DỤ 2:
1/ Người nữ sinh giờ Dậu ngày 23 tháng 1 (tháng Dần) năm Đinh Mão (Âm nữ). Từ ngày giờ sinh tính thuận đến Kinh Trập thì dừng, cộng xem số ngày giờ là bao nhiêu.
2/ Ngày sinh: giờ Dậu ngày 23 tháng 1. Kinh Trập: giờ Tị ngày 7 tháng 2.
(Tháng Dần từ Lập Xuân đến Kinh Trập, nếu đi thuận thì đến Kinh Trập, nếu đi nghịch thì về phía Lập Xuân.)
3/ Từ mục 2, ta tính số giờ: Ngày sinh và ngày “tiết” không tính cả ngày, mà chỉ tính số giờ hôm đó. Kinh Trập giờ Tị (từ đầu ngày là giờ Tí tính đến giờ Tị) hôm đó được 5 giờ. Tương tự với ngày giờ sinh, hôm đó sinh vào giờ Dậu (từ giờ Dậu tính đến hết ngày là giờ Tí) hôm đó được 3 giờ. Tổng giờ của ngày sinh và ngày “tiết” cộng lại là 3+5=8 giờ.
4/ Từ mục 2, ta tính số ngày: Ngày đầu và cuối không tính thì 30 ngày của tháng 1 trừ đi 23 ngày của ngày sinh (đã bao gồm ngày sinh) được 7 ngày, lại cộng với 6 ngày (vì từ đầu tháng đến Kinh Trập là 7 ngày, sau khi trừ 1 ngày Kinh Trập còn 6 ngày) là 7+6=13 ngày.
5/ Từ mục 4, lấy 13 ngày chia cho 3 để ra được số tuổi khởi đại vận là 4 tuổi. Dư 1 ngày tính là 4 tháng, 8 giờ (mục 3) thì tính là 80 ngày (tức là 2 tháng 20 ngày). Cộng tất cả lại là được 4 tuổi 6 tháng 20 ngày. Như vậy là thời gian khởi đại vận sau khi sinh là 4 tuổi 6 tháng 20 ngày.
– VÍ DỤ 3:
1/ Người nam sinh giờ Thìn ngày 2 tháng 9 năm Quý Dậu (Âm nam). Từ ngày giờ sinh tính ngược đến “tiết” trước đó (Bạch Lộ) thì dừng, cộng xem số ngày giờ là bao nhiêu.
2/ Ngày sinh: giờ Thìn ngày 2 tháng 9. Bạch Lộ: giờ Hợi ngày 7 tháng 8.
3/ Từ mục 2, ta tính số giờ: Ngày sinh và ngày “tiết” không tính cả ngày, mà chỉ tính số giờ hôm đó. Bạch Lộ giờ Hợi (từ giờ Hợi tính đến hết ngày là giờ Tí) hôm đó được 1 giờ. Tương tự với ngày giờ sinh, hôm đó sinh vào giờ Thìn (từ đầu ngày là giờ Tí tính đến giờ Thìn) hôm đó được 4 giờ. Tổng giờ của ngày sinh và ngày “tiết” cộng lại là 4+1=5 giờ.
4/ Từ mục 2, ta tính số ngày: Ngày đầu và cuối không tính thì 30 ngày của tháng 8 trừ đi 7 ngày tính từ đầu tháng đến Bạch Lộ là được 23 ngày (đã trừ cả ngày Bạch Lộ), lại cộng với 1 (vì từ đầu tháng đến ngày sinh là 2 ngày, sau khi trừ 1 ngày là ngày sinh còn 1 ngày) là 23+1=24 ngày.
5/ Từ mục 4, lấy 24 ngày chia cho 3 để ra được số tuổi khởi đại vận là 8 tuổi. Còn 5 giờ (mục 3) thì tính 50 ngày (tức là 1 tháng 20 ngày). Cộng tất cả lại là được 8 tuổi 1 tháng 20 ngày cũng chính là số tuổi khởi đại vận sau khi sinh.
Nhận xét về Cục số trong Tử Bình…
Trong các giai đoạn đại vận 10 năm, ngày giờ sinh sẽ nằm ở thời điểm nào trong khoảng đó? Từ câu hỏi này sẽ dẫn đến khoảng thời gian khởi vận sẽ kéo dài bao nhiêu năm? Tức là giai đoạn đầu đời trước đại vận đầu tiên sẽ kéo dài bao nhiêu năm?
Đứa trẻ sinh ra tại một điểm bất kì bên trong một lộ trình thời khí. Do đó, trước khi bắt đầu một lộ trình đại vận đầy đủ, phải xác định khoảng cách từ “toạ độ sinh” tới biên thích hợp. Trong Tử Bình, khoảng này được tính trực tiếp từ “tiết” (節).
Địa Chi tháng cho biết đang ở ô nào. Còn khoảng cách từ thời điểm sinh tới cận biên cho biết đang nằm ở đâu bên trong ô đó.
Mỗi đại vận là một chu kì 10 năm nhưng thời điểm sinh không mặc nhiên trùng với đầu lộ trình. Thời điểm sinh nằm giữa một lộ trình có sẵn. Vì sinh ra giữa lộ trình nên không thể coi đó là đầu lộ trình. Phải tính phần thời gian còn thiếu/thừa để đồng bộ cá nhân với lộ trình, rồi mới bắt đầu đếm các đại vận hoàn chỉnh. Vì vậy, Tử Bình cần một khoảng “pha” để xác định độ trễ từ lúc sinh tới điểm bắt đầu đại vận tiếp theo.
Tử Bình giải thích rất đẹp tại sao cần một khoảng “pha”. Nhưng nguyên lí đó không giúp giải thích tại sao khoảng “pha” trong Tử Vi phải mang đúng năm nhãn 2, 3, 4, 5, 6. Đây là chỗ không đồng nhất của hai môn này. Nhưng phương pháp khác nhau không có nghĩa là không nên ứng dụng cả hai.
Nhận xét về Cục số trong Tử Vi…
Trong Tử Bình, Cục được tính bằng khoảng cách từ ngày giờ sinh tới “tiết” kề cận theo tỉ lệ 3 ngày = 1 năm. Còn trong Tử Vi, vai trò đó được đảm nhiệm bởi Ngũ Hành Nạp Âm của Cục dưới dạng năm lớp 2, 3, 4, 5, 6.
Vì sao đúng năm lớp? Từ phép định Cục, cung Mệnh sau khi có Thiên Can nhờ Ngũ Hổ Độn sẽ tạo thành một cặp Can Chi. Từ Nạp Âm của cặp này mà có thể xác định Thuỷ, Mộc, Kim, Thổ, Hoả. Cho nên số lớp bằng 5 không cần xuất phát từ bài toán khởi đại vận như Tử Bình. Nó xuất phát đơn giản từ việc Cục lấy Ngũ Hành Nạp Âm làm 5 biến phân loại. Và toàn bộ phần “nhãn số” là lớp quy ước tách rời, được ghép thêm vào sau khi Ngũ Hành Nạp Âm đã được xác định.
Cục số đã được quyết định ngay từ đầu theo Nạp Âm. Câu hỏi trọng tâm không phải là bao nhiêu tuổi? Mà là “Hành” nào đang vận hành trong lá số?
Cục số cho biết các năm đầu đời (trước khi bước vào đại vận đầu tiên). Nhưng nó lại không cố định độ tuổi mà tăng giảm tùy theo Cục số, cho nên không thể coi đó là một giai đoạn mặc định hoặc lứa tuổi có ý nghĩa đặc biệt.
Khoảng đầu đời tồn tại vì cần một đoạn đồng bộ. Nhưng việc đoạn ấy rơi vào thời thơ ấu là hệ quả của phép đồng bộ, chứ không phải là nguyên nhân khiến người ta phải phát minh ra Cục.
Trong Tử Vi, Cục số có trước khi áp dụng vào ngày sinh. Nếu tháng và giờ sinh dùng để xác định “toạ độ không gian” (vị trí) của cung Mệnh, thì sau khi xác định Cục số bằng Ngũ Hành Nạp Âm thì ngày sinh mới tạo khoảng “pha” dựa trên Cục số. Vai trò của Cục số là quyết định vị trí chính tinh dựa trên chu kì theo Cục số. Sau khi áp dụng Cục số thì phải cộng bù “pha” đó vào các năm đại vận. Ví dụ, năm khởi đại vận là 6 tuổi (Lục Cục) thì các đại vận sau luôn phải cộng thêm 6 tuổi: 6, 16, 26, 36, 46… Vì đại vận 10 năm của 12 cung là cố định. Cục số chỉ cộng thêm các năm khởi vận vào các cung đại vận đó.