Trước hết, nói tổng quát về Ngũ Hành, các sao và các con số…
Việc gán Ngũ Hành có 2 mục đích:
– Tính tĩnh: Dùng tính chất vật chất để minh hoạ, ẩn dụ cho các tính cách đặc trưng.
– Tính động: Sự tương tác giữa Ngũ Hành thể hiện sự tương khắc hoặc tương sinh của các tính cách.
Biểu tượng các sao:
– Một sao có thể mang tính cách đa dạng, có thể mang nhiều hơn 1 hành.
– Thay vì dùng vật chất để minh hoạ như Ngũ Hành, các sao chính là các biểu tượng đại diện cho các kiểu người đặc trưng hoặc sự việc… thường có tính văn hoá, bối cảnh xã hội… hoặc mang chức danh, nhân danh…
– Ý nghĩa của các sao có thể được xây dựng qua truyền thuyết như Phong Thần Bảng (bảng những vị thần được sắc phong)… mỗi vị thần cai quản một tinh đẩu, tượng trưng cho các tính cách và phẩm chất riêng… đó là phép ẩn dụ trong các nhân vật giả tưởng…
Ví dụ:
– Sao Tử Vi là nhân vật Bá Ấp, thần của khí chất tôn quý.
– Sao Phá Quân là nhân vật Trụ Vương, thần của hung bạo và ngang ngược.
– Sao Tham Lang là nhân vật Đắc Kỉ, thần của dục vọng và vật chất.
– Tướng Quân là vị tướng bảo vệ Quốc Ấn…
– Điếu Khách là vị khách đến Tang Môn phúng điếu, điếu tang…
– Sự khoái lạc của Thiên Diêu có lẽ cũng là một dạng “chữa lành” (Thiên Y) về mặt bản năng. Nhưng luôn có Thiên Hình (luật hình, hình pháp…) soi chiếu đến. Vì mọi sai lầm luôn bắt nguồn từ cám dỗ của khoái lạc làm cho con người sa ngã… Ở khía cạnh khác, ba chữ Thiên này cũng mang ý nghĩa về y học, mổ xẻ, triệu chứng…
Các con số trong thuật số:
– Luôn mang tính nhị nguyên, ví dụ như số lẻ Dương, số chẵn Âm… Từ nhị nguyên đến đa nguyên chỉ là sự chia đôi nhiều lần, nhiều cấp độ… và để khám phá quy luật giữa các cấp độ đó ta có thể dùng các phép chia, phép toán…
– Các con số có tính thời gian, tính quy luật, tính dự đoán… nhờ vậy mà những hiện tượng có tính lặp lại có thể quy về quy luật, công thức… và dự đoán xu hướng tương lai dựa trên quy luật đó. Đem các sao và Ngũ Hành đặt vào quy luật có thể dự đoán sự vận hành của các tính cách trong dòng chảy thời gian của lịch pháp.
Ví dụ về tính số học trong thuật số…
Ngũ Hổ Độn mang ý nghĩa gì?
Can của 12 cung Địa Chi được xác định như sau:
Năm sinh Giáp hay Kỉ khởi ở cung Bính Dần.
Năm sinh Ất hay Canh khởi ở cung Mậu Dần.
Năm sinh Bính hay Tân khởi ở cung Canh Dần.
Năm sinh Đinh hay Nhâm khởi ở cung Nhâm Dần.
Năm sinh Mậu hay Quý khởi ở cung Giáp Dần.
Tại sao lại có sự đúc kết này?
Mệnh và Cục đều mang một bản chất chung là Lục Thập Hoa Giáp với 60 cặp Can Chi bắt đầu từ Giáp Tí. Nhưng Mệnh khởi từ Tí, còn Cục khởi từ Dần.
Tí là thứ tự đầu tiên của 12 Con Giáp, là điểm cực Dương sinh, khởi nguồn của năng lượng Dương, khởi nguồn của sự sống…
Cung Dần cũng là tháng Dần (tháng Giêng) là thời điểm bắt đầu của chu kì tiết khí (theo nông lịch)… Dần là nơi khởi đầu của tiết xuân, bắt đầu bằng Dương Can, nơi Dương khí bắt đầu phát động rõ rệt…
Độ lệch pha giữa Tí và Dần thể hiện sự tách biệt giữa bản thân và môi trường. Điều này cũng dẫn đến sự lệch pha về Thiên Can.
Nếu Mệnh là ta thì Cục là môi trường từ buổi lọt lòng. Dưới 6 tuổi là giai đoạn sơ khai của “hạt giống” ý thức và nhận thức. Độ nhanh chậm thì còn tùy thuộc vào Cục số. Cục số càng lớn thì khoảng thời gian “khởi động” trước khi bước vào đại vận đầu đời (cung Mệnh) cũng dài hơn…
Cục là môi trường, là mảnh đất, là không gian ban đầu… vun đắp bản thân ta. Một “hạt giống” tốt cần một mảnh đất tốt. Sự hoà hợp đó ra sao thì phụ thuộc vào sự sinh/khắc hoặc bình hoà của Mệnh với Cục…
Đã là môn đẩu số hay thuật số thì đương nhiên ứng dụng nhiều các phép toán số. Để chuyển hệ từ khởi Tí sang khởi Dần thì cần dùng quy luật toán học để tìm mối liên hệ…
10 Thiên Can được đánh số thứ tự từ 1→10:
Giáp=1, Ất=2, Bính=3, Đinh=4, Mậu=5
Kỉ=6, Canh=7, Tân=8, Nhâm=9, Quý=10
(Cách đánh số thứ tự từ 1→10 hay từ 0→9 đều có thể ra cùng kết quả vì bản chất không thay đổi. Ở ví dụ này sẽ chọn cách đánh số từ 1→10 để cho Dương Can ứng với số lẻ, Âm Can ứng với số chẵn.)
Thiên Can có 10 nhưng Ngũ Hổ Độn chỉ có 5 là:
Bính Dần
Mậu Dần
Canh Dần
Nhâm Dần
Giáp Dần
Tức là, 5 Can khởi từ Dần là:
Bính Mậu Canh Nhâm Giáp
Đây đều là 5 Dương Can.
Làm sao để quy từ 10 (đủ cả Âm Dương) về 5 Dương?
Ta chỉ cần nhân tất cả với 2 để thành số chẵn (tức là quy hết về 5 Âm), rồi chỉ cần +1 để thành số lẻ. Như vậy là chuyển từ 5 Âm thành 5 Dương để ứng với Dần.
Trước hết là nhân tất cả với 2:
1×2 = 2
6×2 = 12 → 2 (chia 10 dư 2, tối giản còn 2)
2×2 = 4
7×2 = 14 → 4 (chia 10 dư 4)
3×2 = 6
8×2 = 16 → 6 (chia 10 dư 6)
4×2 = 8
9×2 = 18 → 8 (chia 10 dư 8)
5×2 = 10 → 0
10 → 0
(Phép chia lấy dư là phương pháp thường dùng để được tròn số khi đếm cung trong thuật số. Hoặc làm tối giản các số để gộp nhóm.)
Sau khi tối giản ta có:
1 (Giáp), 6 (Kỉ) → 2
2 (Ất), 7 (Canh) → 4
3 (Bính), 8 (Tân) → 6
4 (Đinh), 9 (Nhâm) → 8
5 (Mậu), 10 (Quý) → 0
Đây là lí do Ngũ Hổ Độn ghép:
Giáp với Kỉ (vì ứng với 2)
Ất với Canh (vì ứng với 4)
Bính với Tân (vì ứng với 6)
Đinh với Nhâm (vì ứng với 8)
Mậu với Quý (vì ứng với 0)
Từ Giáp Tí (Tí đầu tiên) đến Bính Dần (Dần đầu tiên) thì Thiên Can là từ Giáp đến Bính (tức là từ 1→3)… Đây là điểm neo ban đầu và cứ theo đà này mà phát sinh với các Thiên Can khác…
Tí là 1 nên ta có:
→ 1×2 = 2 (từ Dương thành Âm)
→ Đếm Tí Sửu Dần thì số 3 là Dần
→ Muốn 2 thành 3 thì phải +1
→ Vậy là từ chẵn lại thành lẻ, từ Âm lại thành Dương…
Như vậy, áp dụng cho tất cả 5 số (2, 4, 6, 8, 0) với +1 ta có kết quả:
1 (Giáp), 6 (Kỉ) → 2+1 = 3 = Bính
2 (Ất), 7 (Canh) → 4+1 = 5 = Mậu
3 (Bính), 8 (Tân) → 6+1 = 7 = Canh
4 (Đinh), 9 (Nhâm) → 8+1 = 9 = Nhâm
5 (Mậu), 10 (Quý) → 0+1 = 1 = Giáp
(Với cách đánh số thứ tự 0→9 thì là +2 thay vì +1)
Kết quả có được chính là quy tắc của Ngũ Hổ Độn.
Từ đây, ta cũng có cơ sở cho thuyết Thiên Can Ngũ Hợp (hoặc gọi là Thiên Can Hợp Hoá):
Giáp hợp Kỉ hoá Thổ (vì Bính Hoả sinh Thổ).
Ất hợp Canh hoá Kim (vì Mậu Thổ sinh Kim).
Bính hợp Tân hoá Thuỷ (vì Canh Kim sinh Thuỷ).
Đinh hợp Nhâm hoá Mộc (vì Nhâm Thuỷ sinh Mộc).
Mậu hợp Quý hoá Hoả (vì Giáp Mộc sinh Hoả).
Thiên Can Ngũ Hợp cho rằng Ngũ Hành của tháng Dần (tháng Giêng) sinh ra Ngũ Hành hợp hoá của năm…
Thêm một ví dụ về ứng dụng số học…
Nói về các phép tính với Cục số…
Cục là môi trường của Mệnh nên Ngũ Hành của Cục chính là Nạp Âm của cặp Can Chi cung Mệnh. Mà Can của cung Mệnh là từ Can năm sinh và Chi cung Mệnh. Cho nên Cục mới được xác định từ hai yếu tố này.
Can của cung Mệnh được xác định bằng Ngũ Hổ Độn (khởi từ Dần). Do đó, Cục số cũng phải khởi từ Dần.
Ta biết rằng, chính tinh được an từ Cục và ngày sinh…
Nhìn vào bảng tra Cục theo 12 cung (để an sao Tử Vi) sẽ thấy ngay:
– Nhị Cục: ngày 2 luôn ở Dần, các cung tiếp theo tịnh tiến +2
– Tam Cục: ngày 3 luôn ở Dần, các cung tiếp theo tịnh tiến +3
– Tứ Cục: ngày 4 luôn ở Dần, các cung tiếp theo tịnh tiến +4
– Ngũ Cục: ngày 5 luôn ở Dần, các cung tiếp theo tịnh tiến +5
– Lục Cục: ngày 6 luôn ở Dần, các cung tiếp theo tịnh tiến +6
Chi tiết hơn, ví dụ với Tứ Cục như sau…
Tập hợp 30 ngày trong tháng được chia đều thành 4 dãy số, mỗi số trong dãy cách nhau đúng 4 đơn vị:
Dãy 1 bắt đầu từ ngày 1: 1, 5, 9, 13, 17, 21, 25, 29
Dãy 2 bắt đầu từ ngày 2: 2, 6, 10, 14, 18, 22, 26, 30
Dãy 3 bắt đầu từ ngày 3: 3, 7, 11, 15, 19, 23, 27
Dãy 4 bắt đầu từ ngày 4: 4, 8, 12, 16, 20, 24, 28
Tứ Cục có 4 dãy. Các Cục còn lại cũng tương tự: Nhị thì 2 dãy, Tam thì 3 dãy, Ngũ thì 5 dãy, Lục thì 6 dãy.
Nếu ngày 4 luôn bắt đầu ở Dần thì các ngày 3, 2, 1 bắt đầu ở cung nào?
Xin trả lời là theo quy tắc “chẵn tiến – lẻ lùi” (chiều thuận kim đồng hồ). Cụ thể như sau…
Từ mốc số 4, ta sẽ tìm ra vị trí của các số 3, 2, 1:
Dãy 4 thì 4 – 4 = 0 → Đứng yên ở Dần.
Dãy 3 thì 4 – 3 = 1 → Số lẻ nên ngày 3 lùi 1 cung.
Dãy 2 thì 4 – 2 = 2 → Số chẵn nên ngày 2 tiến 2 cung.
Dãy 1 thì 4 – 1 = 3 → Số lẻ nên ngày 1 lùi 3 cung.
Tại sao lại có những quy tắc trên? Tại sao lại có quy tắc “chẵn tiến – lẻ lùi”?
Tại sao các ngày bắt đầu lộ trình của Tứ Cục (4, 3, 2, 1) không cho tiến hết hoặc lùi hết? Tức là sắp xếp lần lượt 4 ở Dần, 3 ở Sửu, 2 ở Tí, 1 ở Hợi…
Bởi vì, nếu làm như vậy 4 dãy số sẽ gối đầu vào nhau theo 4 cung liên tiếp. Điều này làm cho hai cung Dậu Tuất luôn bị trống ngày sinh. Sao Tử Vi sẽ không bao giờ xuất hiện ở hai cung Dậu Tuất.
Cho nên nếu chỉ lùi lại hoặc chỉ tiến lên theo lẽ thông thường, các ngày sinh sẽ dồn về một phía của địa bàn, và sẽ có những ô luôn bị khuyết ngày sinh. Và những ô bị khuyết này sẽ dẫn đến sự khuyết thiếu một số cách cục.
Tức là, các vị trí an sao Tử Vi sẽ bị co cụm lại ở một số cung và để trống các cung khác. Sao Tử Vi sẽ không được xuất hiện đủ ở cả 12 cung.
Tại sao quy tắc “chẵn tiến – lẻ lùi” lại giúp các ngày sinh phân phối đều ra các cung?
Là vì…
Ví dụ Tứ Cục:
Bắt đầu từ Dần…
Ngày 1 lùi 3
Ngày 2 tiến 2
Ngày 3 lùi 1…
Theo ví dụ trên thì ngày 1 và ngày 2 sẽ chạy về hai phía khác nhau của địa bàn. Điều này sẽ tạo ra các “bước nhảy” xa nhau (tối đa) để phục vụ mục đích “phân phối khí” đồng đều. Khiến cho các dãy số ngày sinh toả ra tối đa.
Tóm lại, cần phải có một quy tắc mà không có cung nào luôn trống không. Và với quy tắc “chẵn tiến – lẻ lùi” sẽ có thể phân tán quỹ đạo cho Tử Vi.
Lại có một câu hỏi: Tại sao là “chẵn tiến – lẻ lùi” mà không phải là “lẻ tiến – chẵn lùi”?
Ta sẽ thấy:
– Cục số chẵn thì ngày chẵn tiến, còn ngày lẻ lùi.
– Cục số lẻ thì ngày lẻ tiến, còn ngày chẵn lùi.
Tức là:
– Cục chẵn thì ngày chẵn có lợi.
– Cục lẻ thì ngày lẻ có lợi.
Tóm lại, lấy cung Dần làm chuẩn:
– Cùng tính thì tiến. Là đi nhanh.
– Khác tính thì lùi. Là đi chậm.