Tâm và Đạo

MỤC LỤC

Khi chúng ta bắt đầu khám phá bên trong thế giới nội tâm, chúng ta nhận ra rằng hình ảnh mà chúng ta thấy về bản thân không phản ánh đúng bản chất thực sự của mình. Nó được hình thành qua những gì ta được thấy, được nghe và tiếp xúc từ thế giới xung quanh. Ta định nghĩa về bản thân mình thông qua những gì đã thu nạp, đó là những kiến thức, logic và định kiến của lý trí. Chúng làm cho tầm nhìn của ta có một bức màn che mờ. Chúng ta muốn vén bức màn ra để tìm thấy sự thật, tìm thấy bản thể con người chân thực nơi ta.

 

Nếu hữu thức là những suy nghĩ có ý thức trong đầu, thì khoảng trống nằm giữa những suy nghĩ thuộc về vô thức, đó là trạng thái mà ta không suy nghĩ. Ta chỉ có thể quan sát phần hữu thức nhưng cũng tìm cách khám phá cho được phần vô thức.

 

Đạo Tâm là cái tâm của toàn thể vũ trụ, là cái tuyệt đối, là cái vô hình tướng, là nguồn gốc của vạn vật, là cái tâm nhất nguyên (nguyên tố đầu tiên). Thân Tâm là cái tâm bị giới hạn trong thân xác, là mỗi phần của cái tổng thể nên nó là tương đối, là vạn vật hữu hình, là cái tâm nhị nguyên (nguyên tố khi bị phân chia). Cái tâm của vũ trụ nằm trong vô thức. Cái tâm của thân xác có thể thấy trong hữu thức.

 

Trong bụi nước biển có vô số vi hạt. Khi chưa bị tách ra khỏi biển những vi hạt này đều là biển. Nhưng ngay khi có sự tách biệt chúng trở thành những vi hạt cá nhân. Tuy nhiên vị mặn của nước, dù là nước biển hay nước của các vi hạt kia thì như nhau. Cũng như vị mặn có trong toàn thể nước biển, thì sự hiện hữu trong hình tướng con người có khả năng bao trùm tất cả, và nó vốn có sẵn. Nhưng khi đã tự điều kiện hóa nó với hình tướng thân xác, do đó trở nên hữu hạn và chỉ quan tâm đến việc bảo vệ và giữ gìn thân xác.

 

Thân Tâm

 

Thân xác là sản phẩm của tinh chất thực phẩm. Cần phải thấy rõ rằng ý thức khiến chúng ta khác với một khối thịt vô hồn, nó đã bất thần khống chế chúng ta như một kẻ lạ mặt trong đêm tối mà không hề có một nguyên nhân rõ rệt.

 

Biểu hiện của Thân Tâm là ý thức, ý thức là thứ thuộc về thân xác. Bất cứ nơi nào vật chất tự tổ chức thành một cơ thể ổn định thì ý thức tự xuất hiện. Khi thân xác chết đi thì ý thức biến mất.

 

Tài năng là thuộc về thân xác, nó giới hạn trong tổ hợp của vật chất. Tài năng có sự cải thiện thông qua nỗ lực, nhưng không thể vượt qua giới hạn của thân xác.

 

Thế giới thâm nhập vào ta thông qua các giác quan, đó là cánh cửa mở để liên kết nội tâm với thế giới. Hình thù của vạn vật được quy định dựa trên các giác quan. Các giác quan bị giới hạn trong những gì nó có thể cảm nhận, nhưng có rất nhiều thứ vô hình tướng mà nó không thể nhận diện.

 

Những kinh nghiệm thông qua các giác quan được ghi nhớ và tạo thành ký ức. Ý thức là những gì được định hình bởi ký ức. Thế giới của Thân Tâm là thế giới của ký ức, nó liên hệ mật thiết với thân xác, nó của riêng mỗi cá nhân và không chia sẻ được. Không ai có thể thâm nhập được thế giới của cá nhân để thấy như cá nhân đó thấy. Đúng hay sai tùy theo hoàn cảnh, và còn tùy thuộc vào cách nhìn của mỗi cá nhân. Sự khác biệt giữa đúng và sai chỉ có giá trị đối với cá nhân. Trong thế giới của cá nhân, ta thực sự một mình, ta nằm gọn trong giấc mộng mà ta cho đó là cuộc đời. Khi không còn bị bức màn ý thức của chính ta che mờ, ta mới nhìn ra bản chất của bản thân và người khác.

 

Suy nghĩ là hoạt động của Thân Tâm. Suy nghĩ là một dòng chảy không ổn định và biến đổi liên tục, nó vận động không dựa trên điều gì cả. Ký ức trở thành nguyên liệu cho quá trình suy nghĩ. Suy nghĩ không thể hoạt động trong trống rỗng, nó cần nguyên liệu là ký ức. Cách thức của suy nghĩ là so sánh dựa trên cảm nhận khi trạng thái thay đổi, từ sự khác biệt đó ta đưa ra kết luận về tính phân cực.

 

Sự phân cực tạo nên hai chiều hướng và không bao giờ chấm dứt. Vì vậy, bản chất của Thân Tâm là phân chia và gây đối nghịch. Mọi thứ mà ta có thể nhận thức được đều thuộc về hai chiều hướng đối nghịch: thiện ác, đúng sai, hay dở,…

 

Đau khổ và khoái lạc cũng là hai chiều hướng của sự phân cực đó. Suốt nhiều năm chúng ta tìm kiếm hạnh phúc. Ta không thể tìm ra nó, vì một cái mà bản chất vốn dĩ bất an thì không thể nào an. Người ta đau khổ và tìm thuốc giảm đau trong khoái lạc. Tất cả hạnh phúc mà con người có thể hình dung được là ở trong sự bảo đảm cho khoái lạc được tái diễn. Đau khổ và khoái lạc luôn đi cùng với nhau. Thoát ra khỏi một cái thì cũng có nghĩa là thoát ra khỏi cả hai. Nếu ta không màng đến khoái lạc, thì ta chẳng sợ gì đau khổ.

 

Đau khổ cần phải được chịu đựng. Không hề có cái như là khắc phục đau khổ, và cũng chẳng cần phải rèn luyện. Rèn luyện là cho tương lai, rèn luyện thái độ là dấu hiệu của sợ hãi. Nguyên nhân của sợ hãi là ký ức. Ký ức về đau khổ đã qua và nhận định về sự tái diễn của nó làm cho con người sợ hãi về tương lai. Người nào chưa từng đau khổ thì không sợ hãi.

 

Tham ái là ký ức của khoái lạc, và sợ hãi là ký ức của đau khổ. Cả hai làm cho tâm bất an. Chính cái tâm tham ái đẻ ra những ý tưởng về cải thiện và phát triển để đi đến sự hoàn hảo. Chính tâm gây rối nhưng lại nói về ổn định, phá hoại nhưng lại tìm kiếm sự an toàn.

 

Có một sự cải thiện nào đó. Hạnh phúc mà ta tự cho là đã tìm được thì rất mong manh, bất cứ chuyện nhỏ nhặt nào cũng có thể làm nó tan vỡ. Cái mà ta gọi là an chẳng qua chỉ là sự nhiễu loạn đi vắng. Nó không đáng được gọi là an. Thật sự an thì không thể bị quấy nhiễu.

 

Điều mà chúng ta gọi là cải thiện chỉ là sự thay đổi từ trạng thái không vừa ý sang trạng thái vừa ý. Việc so sánh trong sự thay đổi tạo nên khái niệm về thời gian, bất cứ cái gì có sự khởi đầu đều có sự kết thúc. Cái hư giả thì luôn thay đổi, nhưng cái thật thì bất biến. Cái thật không bị giới hạn bởi các khái niệm thời gian, không bắt đầu nên không có kết thúc.

 

Thật ra, chúng ta là cái tổng thể trong đó tất cả tính cách con người xuất hiện và biến mất, còn tự thân cái tổng thể thì phi nhân cách. Khi đã dứt khoát từ bỏ sự nhận diện sai lầm với thân xác, bản tính đích thực của chúng ta tự hiển hiện là vô hình tướng, vô thân, vô tâm. Trong trạng thái này, chúng ta không còn những cần cầu, và do đó không có sự tồn tại của phiền não.

 

Ý thức không tĩnh, nó là một trạng thái liên tục, giống như một bánh xe chuyển động. Trung tâm của bánh xe, tức trục xe, thì không chuyển động. Khi ta di chuyển từ trục xe ra ngoại vi thì chuyển động tăng dần. Tương tự như thế, sự khởi đầu của ý thức cũng giống như trung tâm của bánh xe, điểm không thay đổi, bất biến. Từ ngày ta được sinh ra cho đến khi chết đi, trung tâm đó luôn tồn tại. Khi ta hội nhập vào thế giới, sự chuyển động gia tăng. Quan sát sự chuyển động của ý thức, cái quan sát sự chuyển động thì hầu như bất động.

 

Giấc mơ của thân xác được trải nghiệm trong khi ngủ. Nhưng trạng thái thức cũng chỉ là một hình thái khác của giấc mơ, vì nó chỉ là những sự phóng chiếu trong giới hạn của ý thức, nó là hư giả, nó không phải cái thật. Ta không cần phải đưa giấc mơ đến một kết thúc nhất định, hoặc làm cho nó cao thượng, vui thú, hay đẹp đẽ, tất cả những gì cần là nhận ra ta đang nằm mơ, ta cần trở nên Tỉnh Thức.

 

Đau khổ và khoái lạc là chóp và chân của những con sóng trong biển an lạc. Sự viên mãn ở tận dưới sâu kia.

 

Đạo Tâm

 

Sự thật khi được nhìn nhận trong sự giới hạn nó sẽ trở nên sai lệch. Một phần của sự thật chỉ là sự giả dối. Trong giới hạn của Thân Tâm, ta chỉ có khả năng thấy một phần, nhưng không thể nhìn thấy cái tổng thể. Khi nhận ra cái ta biết là hư giả, ta phải tìm về với nguồn gốc của nó. Thế giới của Đạo Tâm chỉ có cái chung, sự sáng suốt, phẩm chất chân thật, không có sự phân biệt cá nhân và toàn thể. Tất cả là một và một là tất cả. Tham vọng thuộc về con người, giải thoát là thoát khỏi những gì thuộc về con người.

 

Những hình tướng của ký ức là sản phẩm của Thân Tâm, nó bị giới hạn trong các giác quan của thân xác nên nó không thể là sự thật tuyệt đối, nó là hư giả, nó là tương đối. Cái gì được ta thấy là hư giả thì tự nó tan biến. Bản chất của ảo tưởng là tự nó biến mất khi được tìm hiểu. Muốn biết về cái thật ta phải phủ định cái không thật. Ta phủ định cái không là để trở về với cái ta là.

 

Những gì ta có thể chỉ ra như này, như kia thì không thể nào là chính ta. Ta là cái không thể nhận thức được, hay tưởng tượng ra được. Vì chừng nào biết có nghĩa là sự mô tả theo những gì đã biết, qua nhận thức hay khái niệm, đều bị giới hạn trong thân xác. Biết mình không biết, chính là cái biết thật.

 

Thay vì nhìn sự vật theo tưởng tượng, hãy biết cách nhìn chúng như chúng là. Khi có thể thấy bất cứ cái gì như chính nó là, thì ta cũng thấy chính ta như ta là. Điều này cũng như lau sạch một tấm gương. Tấm gương cho ta thấy thế giới như chính nó là, thì chính nó cũng cho ta thấy bộ mặt thật của chính ta. Con đường đi tìm Đạo chính là tấm vải lau. Hãy dùng nó.

 

Ta phải tìm kiếm thực tại ở nơi nào khác? Nó rất đơn giản. Nếu ta hỏi miệng mình có vị gì, thì chỉ có thể trả lời: nó không ngọt mà cũng không đắng, không chua mà cũng không chát, nó là cái gì còn lại sau khi tất cả các vị này không có. Tương tự như thế, khi tất cả mọi khác biệt và phản ứng không còn, cái còn lại là thực tại, đơn giản và chắc chắn.

 

Bằng cách vượt ra ngoài cái tâm hữu hạn, phân chia và gây đối nghịch. Bằng sự chấm dứt tiến trình tâm lý như chúng ta biết. Khi tiến trình này chấm dứt, Đạo Tâm khởi sinh.

 

Đạo Tâm lúc nào cũng ở trong ta, chỉ có điều ta bị ràng buộc vào đủ mọi thứ thuộc về thân xác. Tất cả những nhận dạng về chính mình như thế đều sai lạc. Chính vì chúng mà ta cho rằng ta là những gì không phải là ta. Tất cả mọi định nghĩa chỉ áp dụng cho thân xác và những thể hiện của nó. Một khi nỗi ám ảnh thân xác không còn nữa, ta sẽ trở lại trạng thái tự nhiên mà chẳng cần cố gắng.

 

Những gì mà ta phải cố gắng để đạt được cũng sẽ kèm theo một chiều hướng đối lập. Chỉ những thứ không cần phải cố gắng mới có thể tự trọn vẹn với chính nó.

 

Chết là sự thay đổi trong tiến trình sống của một thân xác riêng biệt nào đó. Sự hòa hợp chấm dứt và sự tan rã xảy ra. Hàng triệu hình tướng đều là sự biểu hiện của ý thức. Chỉ có hàng triệu hình tướng được tạo ra và bị hủy diệt, còn bản chất vũ trụ thì bất sinh và bất tử. Chẳng có ai chết vì chẳng có ai đã được sinh ra.

 

Nếu không có một hình tướng thân xác thì không thể có bất cứ nhận thức nào. Khi thân xác chết, các giác quan không hoạt động nữa, do đó không có nhận thức hay cái biết nào về thế giới xảy ra đối với thực thể đó. Chỉ khi nào các giác quan hoạt động thì mới có nhận thức và cái biết về thế giới.

 

Thân xác này chỉ là một sự chuyển đổi trạng thái của dòng vật chất và năng lượng trong vũ trụ. Khi chết thì chỉ có thân xác chết, ý thức chết. Sự sống không chết, thực tại không chết. Cái gì được sinh ra thì phải chết đi. Chỉ cái bất sinh thì mới bất tử.

 

Cái gì đạt được thì có thể lại bị mất. Chỉ khi nào ta nhận ra sự an lạc chân thật, sự an lạc mà ta chưa bao giờ mất thì sự an lạc đó sẽ ở với ta. Thay vì bỏ công tìm kiếm cái mà ta không có, hãy nhận ra cái mà ta chưa bao giờ mất, cái bất sinh và bất tử. Trạng thái bất di bất dịch đó, không hề bị ảnh hưởng bởi sinh và tử của một cái thân, hay của một cái tâm. Ta phải nhận ra trạng thái đó.

 

Kinh Dịch

 

Tinh hoa triết học phương Đông nằm gọn trong Kinh Dịch với cái nhìn bao quát về vũ trụ và vạn vật. Nhưng có những kẻ lấy 64 quẻ trong Kinh Dịch để đem vào bói toán nhằm khai thác đám người thiếu hiểu biết và mê tín, thỏa mãn ham muốn vật chất của chúng dựa vào hên xui may rủi.

 

Đa số những kẻ học Kinh Dịch chỉ quan tâm các quẻ hào nhằm phục vụ mục đích của mình, mà không chịu đào sâu cái bản chất triết học của nó. Kinh Dịch đưa ta vượt khỏi những mâu thuẫn và nhiễu loạn từ những sự đối nghịch, mà được minh họa với biểu tượng Thái Cực tạo thành từ hai con cá Âm và Dương. Thái Cực tượng trưng cho sự so sánh và phân chia của Thân Tâm đối với vạn vật. Vậy thì, Đạo Tâm là con đường trở về với nguồn gốc của vạn vật, là trở về với cái tâm tĩnh lặng không bị phân chia bởi thân xác, là cái tâm khởi nguyên thuộc về vũ trụ, cái tâm nhìn nhận mọi thứ một cách thấu suốt và tổng thể, có thể gọi nó là Vô Cực.

 

Những trải nghiệm đến từ thân xác không thể định nghĩa cho thực tại, thực tại nằm ngoài những hiểu biết hạn hẹp và hữu hình. Ta chỉ có thể nói về nó bằng cách thông qua những thứ không phải nó.

 

Thực tại là một trạng thái nguyên thủy, vô hình, vô tướng, vô thanh, vô vị, vô cùng, vô tận, không giới hạn, không thời gian, không sinh, không diệt, không tăng, không giảm, không có bất kỳ sự phân biệt nào, ta có thể cảm giác được mà không thể xác định được, có thể hiểu biết được mà không thể nói ra được. Nó không có giới hạn nên ta không thể định danh nó, vì hễ dùng đến danh từ để chỉ định, tức là thứ được chỉ định đã bị hạn định, cho nên ta gượng dùng danh từ Đạo để tạm chỉ định. Trong Kinh Dịch phương Đông gọi đó là Vô Cực, người phương Tây gọi đó là Thượng Đế.

 

Thực tế, Thượng Đế chẳng ở đâu xa, mà đã ẩn ngụ trong tiềm thức và vô thức con người, đó chính là Đấng Sáng Tạo ở trong ta. Nhưng không phải là một thực thể quyền năng siêu nhiên huyền bí, không phải một loại hồn phách ma mị hư ảo, không phải một vị thánh hay ông thần có dáng dấp và tính cách. Thượng Đế hay Chúa Trời cũng chỉ là những cách gọi mang tính tượng trưng về cái hư không mà chúng ta không biết và không thể định nghĩa. Chúng ta mê đắm vào trí tưởng tượng và rơi vào cái bẫy mê tín cũng chỉ vì muốn lấp đầy cái khoảng trống tri thức của mình.

 

Thực tại là nguồn gốc của sự sáng tạo. Sự sáng tạo phải bắt nguồn từ một nơi chốn trong vô thức, nơi đó không bị vướng bận bởi suy tư, nó là một khoảng trống tĩnh lặng của nội tâm. Thân xác luôn bị giới hạn bởi cách mà nó tiếp nhận mọi thứ. Thân xác làm biến tướng mọi thứ theo cách nó muốn. Bản chất của sáng tạo là biến tướng cái nguồn gốc, và khiến nó bị định hình theo nhiều chiều hướng khác nhau. Càng sáng tạo thì càng xa rời với cái bản thể nguyên sơ. Mọi hình thái biến tướng được định hình bởi thân xác, đều dựa trên bản chất ẩn chứa sau nó.

 

Tĩnh lặng là bản chất của nguồn cội, năng động là bản chất của bề mặt. Vô Cực là nguồn gốc của vạn vật, là hướng về Đạo Tâm. Thái Cực là điểm chung của vạn vật, là sự phản ánh của Thân Tâm. Vạn vật luôn thay đổi trạng thái và vận động liên tục theo hai chiều hướng đối lập. Tận cùng của hai chiều hướng đối lập đó là hai giới hạn, hai cực điểm (hai điểm cùng cực): Cực Âm (-) và Cực Dương (+).

 

Chúng ta nhìn cuộc đời bằng khối óc phân chia, ta thấy bất kỳ cái gì cũng có hai chiều, hai mặt, hai Thái Cực: thiện ác, đúng sai, hay dở, trên dưới, trước sau, trong ngoài, phải trái, vinh nhục, giàu nghèo, sang hèn, mạnh yếu, già trẻ, ngày đêm, sáng tối, nóng lạnh, nam nữ, tiến thoái, tĩnh động, cứng mềm, vui buồn, yêu ghét, sướng khổ,… Một khi có sự so sánh thì sẽ có sự phân chia. Nếu chỉ dùng lý trí mà suy luận và nhận xét, thì ta thấy vạn vật thiên biến vạn hóa, không một phút giây nào ngừng nghỉ.

 

Âm và Dương không sinh ra một cách đơn độc, sinh Âm tất cũng sẽ sinh Dương, sinh Dương tất cũng sẽ sinh Âm. Khi một ý niệm nảy sinh thì một ý niệm đối lập cũng nảy sinh cùng nó. Có yêu tất có ghét, có vui tất có buồn. Một mặt hiện thì mặt kia ẩn, mặt ẩn tuy không thấy nhưng chắc chắn tồn tại, gặp thuận lợi là đảo ngược. Ta chỉ nhìn thấy mặt ngửa mà không nhận ra mặt xấp. Có cái tốt là vì được so sánh với cái xấu, có cái đúng là vì được so sánh với cái sai.

 

Muốn có thứ gì sẽ phải cho đi điều có giá trị tương đương. Mất cân bằng về giá trị sẽ sinh ra lo ngại. Điều ta có thì họ không cần, điều họ cần thì ta không có. Cùng dấu là khi điều ta có thì họ cũng có. Trái dấu là ta và họ đều có điều đối phương cần. Vì vậy mà cùng dấu thì đẩy nhau và trái dấu thì hút nhau. Đó là lực hấp dẫn dựa trên giá trị.

 

Mối quan hệ giá trị là mối quan hệ tự nhiên. Không có thứ giá trị nội tại nào là vô hạn. Ta phải tận dụng nguồn lực của mình tối ưu nhất. Nếu chỉ muốn thừa hưởng mà không muốn cho đi là mối quan hệ một chiều, lòng tham là mối quan hệ một chiều. Lòng tham không phải là mong muốn, lòng tham là mong muốn một chiều. Một mối quan hệ mất cân bằng sẽ sinh ra đổ vỡ.

 

Vạn vật hiện hữu đều do hai yếu tố: Đạo và Đức. Đạo là Vô Cực, là vũ trụ, là nguồn gốc của vạn vật, là trung tâm cuộc sống, nó không có tính cách riêng nên nằm ngoài thiện ác, đúng sai, hay dở,… nghĩa là tuyệt đối. Đức là Thái Cực, là nói về vạn vật, là chỉ sự phân chia, là thiện ác, đúng sai, hay dở,… nghĩa là tương đối. Muốn cái hay mà không muốn cái dở, muốn trật tự mà không muốn hỗn loạn, tức là không biết định luật của vạn vật, vạn vật luôn có Âm và có Dương. Vạn vật luôn giao động giữa hai Thái Cực, luôn biến thiên, luôn là trạng thái động, cái động không cố định, nó là tương đối. Nhưng bản chất của vũ trụ, của Vô Cực là tuyệt đối, vì nó luôn trống rỗng, sự trống rỗng không thể bị phân chia, nó là trạng thái tĩnh, cái tĩnh đem lại bình an trong nội tâm. Trạng thái đó khiến ta giống như một kẻ ngu dốt, vì ta đã tách biệt mình khỏi biết bao tri thức đã dày công học hỏi để trở về với bản chất nguyên thủy, trở về với vũ trụ ở sẵn bên trong ta.

 

Nhân Quả, Luân Hồi, Nghiệp

 

Vũ trụ không do nhân duyên nào tạo ra, và mọi vật dù nhỏ đến đâu đều không do nhân duyên mà có, chúng xuất hiện và biến mất không vì bất cứ lý do gì. Tất cả mọi chuyển động hữu hình và có thể nhận thức được đều tự xảy ra mà không có một lý do đặc biệt nào. Điều này có nghĩa là mọi sự vận hành, sự quay tròn, sự rung chuyển, sự rầm rì đều không có một mục đích. Dĩ nhiên, mọi thứ đều tương quan liên kết. Do đó, mọi vật đều có vô số nguyên nhân. Toàn thể vũ trụ góp phần cho cái nhỏ nhặt nhất. Xu hướng của vũ trụ thiên về sự quân bình, hài hòa và hợp nhất. Bất cứ lúc nào, bất cứ gì xảy ra bây giờ, là đều cho sự tốt lành nhất.

 

Tính nhiều và đa dạng chỉ tồn tại ở trong tâm. Quá khứ và tương lai chỉ tồn tại ở trong tâm. Thời gian ở trong tâm, không gian ở trong tâm. Trong thực tại tất cả ở đây và bây giờ, và tất cả là một. Chính ảo tưởng về thời gian tạo ra tương quan về Nhân Quả. Trong thực tế cuộc sống, chúng ta bao giờ cũng khởi sinh một hành động với ý định mong chờ một kết quả. Nhân Quả chỉ là sự thể hiện của một quy luật đem lại lợi ích, một lối suy nghĩ mà ta nêu câu hỏi và áp đặt câu trả lời. Mọi tính hợp lý và những sự diễn giải đều là sản phẩm của Thân Tâm. Chừng nào tâm còn hoạt động thì Nhân Quả vẫn có hiệu lực. Ngay chính sự thôi thúc để đạt thành cũng là một sự thể hiện của toàn thể vũ trụ. Nó đơn thuần cho thấy rằng nguồn năng lượng tiềm tàng đã dâng đến một điểm nhất định nào đó.

 

Luân Hồi hàm ý một mớ ký ức và hy vọng của ý thức, tưởng tượng chính nó tồn tại mãi mãi trong dòng thời gian mà tự nó tạo ra. Ý thức tạo ra quá khứ và tương lai để dung chứa sự trường tồn hư giả của nó. Khi ta không còn tưởng tượng thì sinh và tử không còn xảy ra đối với ta. Chỉ những ai nghĩ mình được sinh ra mới nghĩ mình được tái sinh.

 

Nghiệp chỉ là cái kho tàng trữ những năng lượng chưa được giải phóng, những tham ái chưa được thỏa mãn. Vô tham ái tự xuất hiện ngay khi tham ái được nhận ra là hư giả đến từ thân xác. Cái gì được ta thấy là hư giả thì tự nó tan biến. Bản chất của ảo tưởng là tự nó biến mất khi được tìm hiểu, chỉ thế thôi.

Chia sẻ:
Facebook
Bài viết liên quan

Bất kỳ một tổ chức nào không thể tồn tại mà không có một nhà lãnh đạo. Nhưng chẳng ai có thể lãnh đạo một mình. Anh ta không thể tự quản lý ngân sách, tự thi hành luật và tự điều phối những dự án. Anh ta cần nắm...

Suy nghĩ là một hoạt động. Hoạt động suy nghĩ sẽ hình thành ý nghĩ. Quá trình suy nghĩ và tưởng tượng sẽ hình thành ý tưởng. Chúng ta định nghĩa sự sáng tạo là quá trình tạo ra ý tưởng mới. Vậy thì ý tưởng mới đến từ đâu?...

Bản chất của cổ phiếu là khoản nợ. Mua bán cổ phiếu là mua bán nợ của các công ty. Cổ phiếu khi mới khai sinh ở thế kỷ 17 thì nó là khoản nợ của các công ty với ngân hàng. Con nợ của ngân hàng không có khả...

Khi một chủ đầu tư cần làm dự án, ngoài số vốn tự có còn phải vay thêm tiền từ ngân hàng. Ngân hàng sẽ hứa hẹn cho vay theo nhiều giai đoạn. Để thực hiện dự án thì chủ đầu tư sẽ thuê các nhà thầu và sẽ nợ...

NỔI BẬT
Theo dõi chúng tôi trên MXH:
Liên hệ:
contact.hbth@gmail.com
© 2023 hatbuitamhon. All rights reserved.
Scroll to Top