Thực tại
Trong sách nhà Phật có câu chuyện rằng: Một hôm bốn người mù, họp nhau bàn về hình con voi. Người thứ nhất trước đã sờ thấy chân con voi, tưởng là hình con voi như cái cột. Người thứ hai trước đã sờ thấy cái vòi, tưởng là hình con voi như con đỉa lớn. Người thứ ba trước đã sờ thấy cái tai, tưởng là hình con voi như cái quạt. Người thứ tư trước đã sờ thấy cái đuôi, tưởng là hình con voi như cái chổi. Bốn người mù cãi nhau kịch liệt, mà ai cũng tự cho mình là phải, vì mình đã sờ thấy rõ ràng. Lúc ấy có một người đi qua, thấy bốn người mù cãi nhau, ghé vào hỏi vì duyên cớ gì. Bốn người nói đầu đuôi câu chuyện và nhờ người ấy phân xử cho. Người ấy nói rằng: “Các anh mỗi người chỉ biết có một phần con voi, chứ không biết rõ cả toàn thể của nó. Nó có chân như cái cột, chứ hình nó không phải như cái cột; nó có cái vòi như con đỉa, chứ hình nó không phải như con đỉa; nó có tai như cái quạt, chứ hình nó không phải như cái quạt; nó có cái đuôi như cái chồi, chứ hình nó không phải như cái chồi. Toàn thề con voi là gồm tất cả chân vòi tai đuôi”. Người ta cãi nhau là vì chỉ biết có một phần của toàn thể, chứ không biết rõ cả toàn thể. Mọi sự hiểu lầm vì ta chỉ nhìn thấy một phần của câu chuyện.
Con người là tấm gương phản chiếu thế giới, nhưng sự phản chiếu đó ra sao thì do các giác quan mà con người được ban cho. Những gì cảm nhận được qua các giác quan là những dấu hiệu của thực tại. Tại sao chỉ là dấu hiệu? Vì đó là trải nghiệm của thân xác, nên góc nhìn về thực tại hạn hẹp trong giới hạn của thân xác này. Ta có thể coi cái biết đó là vẻ bề ngoài, là những hình tướng của thực tại, còn bản chất thực tại thì ẩn sau những hình tướng ấy không thể nào xác định.
Thế giới chỉ là sự phản ánh từ chính con người. Ta nhận diện một thứ vì đôi mắt thấy như vậy, đôi tai lắng nghe như vậy, da thịt cảm giác như vậy và tâm trí suy nghĩ về nó như vậy.
Con người chỉ tiếp cận hiện tượng, không thể biết vật tự thân. Chủ nghĩa hiện thực ngây thơ với niềm tin rằng khoa học khám phá chân lý tuyệt đối. Khoa học là công cụ diễn dịch, không phải chân lý tuyệt đối. Khoa học không khám phá “bản chất thực sự” của vũ trụ, mà chỉ xây dựng mô hình hữu ích để con người hiểu và thao tác thế giới. Các lý thuyết vật lý, hóa học đều dựa trên giác quan và nhận thức của con người. Ví dụ, màu sắc chỉ là sóng ánh sáng phản chiếu lên võng mạc, không tồn tại khách quan. Ta không bao giờ thấy thực tại khách quan. Ta chỉ thấy mô hình của thực tại do tâm trí xây dựng dựa trên những tín hiệu hạn chế từ các giác quan.
Những khái niệm khoa học (nguyên tử, lực hấp dẫn) không phải thực thể khách quan, mà là công cụ để mô tả hiện tượng. Nó chỉ là “bản đồ” hữu ích nhưng không phải “lãnh thổ” thực sự. Thuyết nguyên tử “đúng” vì giúp chế tạo vi mạch, dù nguyên tử không hoàn toàn như được mô tả. Chủ nghĩa thực dụng coi chân lý là cái có ích cho cuộc sống, không phải cái phản ánh thực tại khách quan.
Việc đồng nhất mô hình (bản đồ) với thực tại (lãnh thổ) sẽ dẫn đến những hiểu lầm tai hại. Chúng ta có thể tin rằng mô hình của chúng ta là hoàn hảo và bỏ qua những sai lệch của nó so với thế giới thực. Mô hình chỉ là công cụ giản lược, không phải bản sao hoàn hảo của hiện thực. Các mô hình của chúng ta, dù tinh vi đến đâu, cũng chỉ là những bản đồ xấp xỉ của một lãnh thổ thực tại vô cùng phức tạp và hỗn độn.
Bản chất thực sự của sự sống là một dòng chảy liên tục, tràn đầy năng lượng và không bị giới hạn. Tuy nhiên, tâm trí của chúng ta thường xuyên tạo ra các khái niệm để “nắm bắt” và “hiểu” thế giới, nhưng chính những khái niệm này lại vô tình trở thành những tấm màn che khuất đi sự sống động toàn diện đó.
Hình ảnh vật chất của các nhà khoa học cũng chủ quan như cách mọi người cảm nhận đời sống. Dù sử dụng công cụ tinh vi, khoa học vẫn bị giới hạn bởi giác quan và nhận thức của con người. Khoa học không phải hành trình tìm kiếm chân lý, mà kiến tạo ý nghĩa. Đó là căn bệnh “biết quá nhiều” của thời đại chúng ta, một hệ quả của chủ nghĩa chuyên môn hẹp.
Thực tại là duy nhất và không giới hạn, nhưng góc nhìn của ta thì tập trung vào từng phần một, và thấy thế giới này thật đa dạng. Nếu nhìn rộng ra, ta sẽ tìm thấy một cái toàn thể không xác định.
Thái Cực
Các hiền triết cổ xưa đã suy diễn lại sự tạo thành vạn vật. Đó là sự biến hóa, chia phôi của một nguyên thể bất biến. Vạn vật là những trạng thái biến thiên, những tác dụng của một nguyên thể. Trông bên ngoài thì muôn vạn hình thù, vào tới trung tâm thì lại nhất quán, đó là bản chất Nhất Nguyên (sự thống nhất, sự nguyên vẹn, không chia cắt) của mọi sự vật và hiện tượng. Nguyên thể đó được gọi là Thái Cực.
Thái Cực là trạng thái nguyên thủy, một thể thống nhất và chưa được phân biệt. Biểu tượng của Thái Cực là hai phần đang hòa quyện hợp nhất vào nhau. Ở chiều ngược lại, từ thể thống nhất này, hai mặt đối lập Âm và Dương tách ra và tương tác với nhau, tạo nên sự vận động và tồn tại của vũ trụ.
Ta thấy bất kỳ cái gì cũng đều rơi vào hai mặt đối lập và luôn ở trong trạng thái biến đổi không ngừng: thiện ác, đúng sai, hay dở, nóng lạnh, tĩnh động, sáng tối, cứng mềm, vui buồn, yêu ghét,… Đó là bản chất Nhị Nguyên của vạn vật qua trải nghiệm của thân xác con người.
Khi một trạng thái phát triển đến cực điểm, nó sẽ chuyển hóa theo hướng ngược lại, và nó cứ lặp đi lặp lại không ngừng. Hầu hết các sự vật và hiện tượng được ý thức nhìn nhận như là nằm trong một dải nối giữa hai cực đối lập nhau, chúng diễn tiến từ cực đoan này đến cực đoan khác: nóng thành lạnh, lạnh thành nóng, sáng thành tối, tối thành sáng, vui thành buồn, buồn thành vui, yêu thành ghét, ghét thành yêu,… Khi đi đến tận cùng của một cực, ta lại thấy cực kia, nói cách khác, ta tìm thấy phân cực này bên trong phân cực khác, trong Âm có Dương và trong Dương có Âm. Đó là ý nghĩa của hai chấm tròn là mắt cá trắng và mắt cá đen trong biểu tượng Thái Cực.
Đặc điểm của tâm trí là luôn phân chia và gây đối nghịch, nó tạo nên hai chiều hướng đối lập và không bao giờ chấm dứt. Hai chiều hướng, hai mặt đối lập nhau nhưng không tách biệt không gian và thời gian nên thoát khỏi mặt này thì tức là thoát khỏi mặt kia, chúng tăng giảm cùng nhau tạo nên sự cân bằng Âm Dương.
Âm Dương không sinh ra một cách đơn độc, sinh Âm tất cũng sẽ sinh Dương, sinh Dương tất cũng sẽ sinh Âm. Khi một ý niệm nảy sinh thì một ý niệm đối lập cũng nảy sinh cùng nó. Có cái tốt là vì được so sánh với cái xấu, có cái đúng là vì được so sánh với cái sai. Có yêu tất có ghét, có vui tất có buồn.
Tâm tạo ra hai chiều hướng đối nghịch, tận cùng của hai chiều hướng là hai cực điểm, ta sẽ dao động trong giới hạn đó, hoặc sẽ trở nên thiện hoặc sẽ trở nên ác đó là bản tính tự nhiên của tâm.
Thái Cực ở trạng thái chưa được nhận biết gọi là Vô Cực (vì khả năng nhận biết qua các giác quan có giới hạn). Vô Cực là trạng thái chưa biểu hiện của Thái Cực. Thái Cực là trạng thái biểu hiện của Vô Cực. Vô Cực và Thái Cực là hai phương diện của cùng một thực tại. Vô Cực là thực tại ở trạng thái tiềm ẩn, Thái Cực là thực tại hiện hữu trong mọi sự vật và hiện tượng.
Có và không
Sự vận động luôn cần đến một đối tượng vận động và không gian vận động (khoảng trống). Ta có thể gọi là cái có và cái không, mỗi sự vận động đều phải cần cả hai yếu tố này. Giữa chúng luôn là một mối liên hệ mật thiết không thể tách rời.
Đồ vật được xác định và hữu dụng chỉ khi nó tồn tại cùng với khoảng trống. Nếu không có khoảng trống thì đồ vật không tồn tại và hoạt động. Sự đan xen giữa cái có và cái không là điều kiện tất yếu cho sự tồn tại và vận động của mọi sự vật.
Tồn tại và hư vô vừa tách biệt vừa giúp nhau biểu hiện. Chúng gắn kết thành một thực tại phân biệt, nhưng vốn dĩ vẫn là hai mảnh ghép. Chúng không thể độc lập, nhưng cũng không thể thực sự là một. Tồn tại là một nguyên thể bất biến vừa có thể tụ hợp, vừa có thể phân chia. Hư vô là khoảng trống tạo không gian định hình cho tồn tại. Điều gì thúc đẩy sự vận động không ngừng giữa hai yếu tố đó? Chính sự phân biệt đó tạo nên “xung đột” và thúc đẩy khiến chúng luôn biến động. Sự biến động đó khiến tồn tại không ngừng hợp tan, tái sắp xếp tạo thành nhiều mô hình khác nhau, nhưng hư vô vẫn luôn đan xen không biểu hiện. Sự biến động không ngừng của tồn tại tạo nên những ảo ảnh liên tục, nên chẳng lần tụ hợp nào kéo dài được mãi cả. Nếu một mô hình không tan rã, mô hình mới sẽ không bao giờ có cơ hội được sinh ra.
Nếu tồn tại và hư vô “hòa làm một”, vũ trụ sẽ trở về trạng thái tuyệt đối, và mọi thứ sẽ dừng lại. Sự sống và vận động chỉ xảy ra khi có sự chia cắt.
Sự sống và vận động có phải là những vòng lặp vô nghĩa, hay nó đang tiến hóa về một hướng nào đó? Có lẽ câu trả lời không nằm ở việc chọn A hay B, mà là ở vị trí ta đứng để quan sát. Về mặt bản thể (substance) nó là vòng lặp vô nghĩa. Về mặt chức năng (function) nó là sự tiến hóa.
Nếu đứng từ vị trí của “cội nguồn” thì toàn bộ quá trình này là những vòng lặp vô nghĩa, một trò chơi với tổng bằng không. Nó giống như việc xây một lâu đài cát rồi sóng đánh tan, chỉ để xây lại một cái mới. Không có đích đến, chỉ có “niềm vui” của sự kiến tạo và giải thể. Nếu tồn tại là một giấc mơ, thì việc nhân vật trong mơ trở thành vua hay kẻ ăn mày, thế giới trong mơ tiến bộ hay diệt vong, đều không quan trọng. Mục đích duy nhất của giấc mơ là sự tỉnh thức. Khi tỉnh dậy, mọi “tiến hóa” trong mơ đều tan biến.
Tuy nhiên, nếu đứng từ vị trí của “nguyên tố tách biệt” (chúng ta), sự luân chuyển này có hướng đi. Đó không phải là một vòng tròn khép kín (circle), mà là một hình xoắn ốc (spiral). Ta đi vòng quanh, nhưng mỗi vòng lại ở một cao độ khác.
Bản thể và các phiên bản
Bản thể là cái được cho là đã nuôi dưỡng và tạo ra hiện tượng. Hiện tượng là biểu hiện của bản thể, bản thể là nguyên nhân của hiện tượng. Bên trong hiện tượng này ta sẽ tìm thấy hiện tượng khác, và luôn thấy vô hạn không thể khám phá hết. Bản thể chỉ là hiện tượng chưa được tìm thấy, nên bản thể hay hiện tượng vốn chỉ là một.
Trong mối liên hệ giữa bản thể và hiện tượng, hiện tượng là vô vàn thế giới quan được tạo thành từ vô vàn phản ứng từng phần của bản thể. Có thể nói, bản thể xác định không tồn tại, chỉ có các phiên bản khác nhau của nó liên tục được tạo ra.
Sự phân mảnh từ một bản thể gốc tạo ra các “phiên bản” với khả năng giới hạn. Tại sao cái một lại trở thành cái nhiều? Điều gì khiến bản thể đó phân mảnh? Liệu bản thể có chi phối các “mảnh vỡ” mà nó phân mảnh ra không? Có tồn tại “sự tự do của mảnh vỡ” trong mối quan hệ với bản thể?
Theo Đạo Phật, bản thể vốn “Duyên khởi tính Không”, nhưng vì vô minh nên tưởng có “cái tôi” tách biệt tạo ra ảo giác phân mảnh. Quá trình này không do “bản thể quyết định”, mà là hiệu ứng tự nhiên của năng lượng vũ trụ. Như nước đóng băng thành bông tuyết, cùng bản chất, nhưng đa dạng hình thái do điều kiện môi trường. Sự “chi phối” duy nhất là quy luật Nhân Quả, đó là luật tự nhiên, không phải ý chí cá nhân.
Bản thể không “chi phối” theo kiểu kiểm soát, mà “hiện thân” qua các mảnh vỡ. Giống như mặt trời không điều khiển từng tia nắng nhưng tia nắng nào cũng mang bản chất mặt trời. Quá trình quy nguyên không phải là tiêu diệt cá tính, mà là sự trưởng thành của ý thức. Như sóng nhận ra mình là nước thì càng tự do biểu đạt hơn, không mâu thuẫn với bản chất.
Các mảnh vỡ dù có nguồn gốc duy nhất, khi tương tác với môi trường, những điều kiện ngoại cảnh và mối liên hệ với vạn vật khác sẽ làm nổi bật những khía cạnh khác nhau của nó. Mỗi mảnh vỡ trở thành một phiên bản riêng biệt trong bối cảnh cụ thể của chính nó.
Mỗi mảnh vỡ còn sở hữu tính tự chủ nhất định. Từng phần vừa là biểu hiện sự đa dạng của bản thể, vừa có giới hạn và cách thể hiện riêng. Trong điều kiện này, bản thể không “chỉ huy” hay “chi phối” một cách trực tiếp, mà thay vào đó cho phép mỗi mảnh vỡ tự vận hành theo các quy luật riêng biệt và điều kiện cá nhân của nó. Tính tự chủ này cùng với mối liên hệ với bản thể gốc tạo ra một mối quan hệ phối hợp, nơi mà cả sự đồng nhất và sự khác biệt đều tồn tại song song.
Cái gọi là “ngẫu nhiên” không tồn tại
Tâm trí con người có khuynh hướng tìm kiếm trật tự nhất định. Tuy nhiên, khi vượt qua những giới hạn của tư duy, chúng ta lại đối diện với khả năng của sự ngẫu nhiên, một yếu tố mang tính hỗn loạn và khó đoán. Các quy luật chỉ có hiệu lực trong một phạm vi nhất định, và khi trật tự tan vỡ, chúng ta thường tìm đến sự ngẫu nhiên như một lời giải thích cho những điều không thể lý giải.
Hậu quả được nhìn nhận qua lăng kính sự chuyển động, đó là khi một sức mạnh này lấn át sức mạnh khác. Vũ trụ vận hành theo quy luật nhân quả, sự vận hành của nó không phải là ngẫu nhiên. Nhưng tâm thức giới hạn không có khả năng đoán trước. Sự ngẫu nhiên chỉ mang tính tương đối đến từ tâm thức giới hạn.
Vũ trụ là một tổng thể bảo toàn luôn duy trì tổng năng lượng không đổi. Mọi biến đổi, phân tán hay tập trung của vật chất và năng lượng đều tuân theo nguyên lý không phát sinh hay mất đi, mà chuyển hóa lẫn nhau. Năng lượng không tự sinh ra hoặc mất đi, nó chỉ chuyển hóa từ dạng này sang dạng khác. Mọi hành động đều tạo ra phản ứng, mọi sự kiện đều có nguyên nhân và hệ quả, dù đôi khi chúng phức tạp đến mức ta gọi nó là “ngẫu nhiên”.
Trong một hệ thống như vậy, cái gọi là “ngẫu nhiên” chỉ là cách gọi khi ta không đủ thông tin để thấy đầy đủ mọi mối liên hệ nhân quả. Ngẫu nhiên thực chất chỉ là biểu hiện của những quy luật sâu xa hơn mà chúng ta chưa thấu hiểu hết. Nếu có đủ dữ liệu và năng lực tính toán, mọi thứ đều có thể được dự đoán.
Hiểu biết sâu sắc nhất thường đến từ việc kết nối các lĩnh vực tưởng chừng không liên quan. Sự bất định không phải do ngẫu nhiên thuần túy, mà do sự không hoàn hảo của quan sát – một dạng bất định nhận thức, không phải bất định bản thể.
Ta thường không thể tính toán chính xác từng biến cố riêng lẻ. Nhưng khi lặp lại một thí nghiệm nhiều lần, kết quả sẽ hội tụ về giá trị trung bình. Ví dụ: tung đồng xu 10 lần, có thể 7 mặt ngửa, 3 mặt sấp; tung 10.000 lần thì tỷ lệ gần như 50-50. Các kết quả ngẫu nhiên dường như trở nên ổn định và dự đoán được khi số lần thử nghiệm ngày càng lớn. Xác suất là công cụ toán học để mô tả xu hướng tự nhiên này. Nó cho thấy mọi sự kiện vốn không phải do may mắn hay xui rủi, mà do quy luật xác suất.
Sự thiếu hụt ở nơi này thực chất sẽ được bù trừ ở nơi khác. Để nhận ra bản chất của sự bù trừ, ta phải vượt qua “không-thời gian giới hạn” của một biến cố riêng lẻ. Chỉ khi nhìn nhận mọi thứ trong một “vòng lặp vĩnh cửu” của sự lặp lại, ta mới thực sự thấy được bức tranh toàn cảnh. Sự ngẫu nhiên vi mô không phủ nhận trật tự vĩ mô.
Lý thuyết hỗn độn
Trong hệ thống ỔN ĐỊNH, những biến đổi nhỏ trong hoàn cảnh ban đầu chỉ tạo ra những biến đổi nhỏ trong trạng thái cuối cùng. Trong hệ thống HỖN ĐỘN, một biến đổi nhỏ ban đầu có thể tạo ra một thay đổi rất lớn ở trạng thái cuối cùng.
– Thời tiết: Mô hình dự báo thời tiết là phi tuyến tính và hỗn độn. Một sai số nhỏ trong đo lường nhiệt độ, áp suất ở hiện tại có thể dẫn đến một dự báo hoàn toàn sai lệch cho 10 ngày sau.
– Sinh thái học: Sự biến mất của một loài săn mồi nhỏ (thay đổi nhỏ ban đầu) có thể phá vỡ toàn bộ chuỗi thức ăn, dẫn đến sự sụp đổ hoặc bùng nổ dân số của các loài khác (thay đổi lớn ở trạng thái cuối cùng).
– Kinh tế tài chính: Một tin đồn nhỏ (điều kiện ban đầu) có thể kích hoạt một làn sóng bán tháo, dẫn đến sự sụp đổ của thị trường chứng khoán (trạng thái cuối cùng khổng lồ).
Một sai số cực kỳ nhỏ trong phép đo (một sự “nhiễu” không thể loại bỏ) sẽ được khuếch đại theo cấp số nhân theo thời gian, khiến mọi dự đoán dài hạn trở nên bất khả thi.
Khoa học hiện đại không từ bỏ dự báo, mà chuyển từ “chắc chắn” sang “xác suất”. Không có dự báo điểm, chỉ có dự báo phân bố. Sự chuyển đổi từ tư duy xác định sang tư duy thống kê/xác suất.
Năng lực này không thể biết chính xác tương lai, nhưng nó có thể biết “phổ” các khả năng của tương lai. Nó có thể tính toán được một tập hợp các kịch bản có thể xảy ra và gán cho mỗi kịch bản một xác suất. Thay vì một tương lai duy nhất, ta thấy một “chùm” các tương lai tiềm năng, mỗi cái có một xác suất xảy ra nhất định. Nó biết điều gì là có thể, điều gì là có xác suất cao, và điều gì là gần như không thể.
Trong hệ thống hỗn độn, không tồn tại “hành trình tiến gần sự thật”, chỉ có khoảng thời gian hữu hạn để dự báo có ích. Không có một “sự thật” duy nhất, chỉ có tập hợp các trạng thái có thể.
Mặc dù mất đi khả năng dự đoán chi tiết, ta lại thu được khả năng dự đoán cấu trúc. Hệ thống không hội tụ về một điểm, mà dao động trong một cấu trúc.
Khái niệm “khớp với thực tại” trở nên mờ nhạt trong hệ thống hỗn độn. Vì vậy, tiêu chuẩn đánh giá phải thay đổi. Khoảng cách đến sự thật không còn được đo bằng sự chênh lệch giữa “dự báo” và “sự kiện thực tế”, mà được đo bằng khả năng của mô hình (trong việc nắm bắt được cấu trúc của các khả năng có thể xảy ra). Nó cho ta biết phạm vi của những gì có thể xảy ra, xác suất của các kịch bản khác nhau, và giúp ta đưa ra quyết định sáng suốt nhất dựa trên sự hiểu biết đó, ngay cả khi ta không thể biết chắc chắn.
Chúng ta không thể chờ đợi để có một mô hình hoàn hảo mới hành động. Thay vào đó, chúng ta sử dụng những mô hình tốt nhất hiện có (những mô hình thừa nhận sự không hoàn hảo của chính mình) để định hướng hành động.
Sức mạnh thực sự của khoa học không nằm ở khả năng tiên tri, mà nằm ở khả năng cung cấp một bản đồ xác suất đủ tốt để ta có thể điều hướng một cách khôn ngoan trong một thế giới vốn dĩ đầy rẫy sự bất định.
Chúng ta từ bỏ giấc mơ về sự hoàn hảo để đổi lấy một thứ có giá trị hơn nhiều: sự hữu dụng trong thực tiễn. Đây là một sự trưởng thành sâu sắc của tư duy khoa học.
Tự do ý chí
Nếu mọi hành động của con người đều xuất phát từ chuỗi liên kết và sự chi phối của toàn thể, vậy thì những gì mà ta làm còn mang ý nghĩa gì?
Khi tin rằng mình được tự do, con người cũng tin mình có trách nhiệm. Con người tưởng tượng ý chí như một “nguyên tử” tách biệt, có thể đưa ra quyết định độc lập với dòng chảy liên tục của tâm thức và bản năng. Thực tế, ý chí là sản phẩm của sự va chạm giữa các xung lực. Tự do ý chí giả định tồn tại một cái “tôi” tách biệt, có thể can thiệp vào thế giới. Nếu không có tự do, khái niệm trách nhiệm đạo đức trở nên vô nghĩa. Con người không thể bị buộc tội vì hành động không phải do họ “tự chọn”. Nếu điều này đúng, các hệ thống đạo đức truyền thống (dựa trên tự do và trách nhiệm) sụp đổ. Nếu không có tự do, việc trừng phạt hay khen thưởng chỉ là hành động trả thù hoặc khuyến khích hành vi, không liên quan đến công lý. Trách nhiệm đạo đức, lúc này chỉ là một công cụ kiểm soát để giữ cho “đàn cừu” không chạy tán loạn.
Ảo tưởng về tự do ý chí lại là một cơ sở quan trọng trong sự vận hành của chính quy luật đó. Nếu con người biết chắc chắn rằng mình không có tự do, họ có thể rơi vào trạng thái trơ lì, ngừng hành động. Nhưng tự nhiên (hay quy luật) đã cài đặt vào não bộ chúng ta ảo giác rằng “tôi đang lựa chọn”. Chính ảo giác này tạo ra năng lượng, sự đấu tranh và thúc đẩy sự tiến hóa của toàn bộ hệ thống. Vì vậy, cảm giác “tự do” là giả, nhưng tác dụng của nó là thật. Nó là “nhiên liệu” cho sự vận động.
Khi nhận ra mối liên kết trong mọi thứ, ta nhận ra sự tự vận hành của một nhất thể vô tận, nhưng khả năng nhận thức hạn chế luôn bị đánh lạc hướng khỏi điều đó. Trong góc nhìn của sự giới hạn nhận thức, con người coi tự chủ là khả năng duy trì trật tự nội tại giữa dòng chảy hỗn mang của ngoại cảnh. Đó là khả năng kiểm soát trong một ranh giới bất chấp tác động bên ngoài như một hệ thống đóng. Bất cứ sự tự chủ nào cũng cần phải tách biệt, và chỉ tồn tại trong phạm vi vòng lặp của nó. Đó là lựa chọn cắt đứt khỏi không gian bên ngoài. Khát vọng tự chủ thực chất là nỗi sợ hãi sự lệ thuộc, và đích đến cuối cùng của sự tự chủ tuyệt đối lại chính là sự cô lập và bảo thủ.
Nếu bên ngoài không thể tác động bên trong, thì bên trong cũng không thể tác động bên ngoài. Tự chủ không phải là tác động lẫn nhau, ngược lại, chúng từ bỏ lẫn nhau. Đó là sự tự chủ với niềm tin rằng, vũ trụ có những ranh giới được chia cắt tuyệt đối và tự vận hành vĩnh cửu trong nội vi của nó.
Sự khác biệt không dẫn đến tách biệt, ngược lại, chúng lệ thuộc nhau. Sự khác biệt dù có vẻ như tạo nên khoảng cách, thực chất lại là nguồn gốc của sự gắn kết và cộng sinh. Sự khác biệt của vạn vật mang tính bù đắp cho sự cân bằng tự nhiên. Tự chủ là tách biệt khỏi sự chi phối bên ngoài, nên cái “tôi” tự chủ không khác biệt với cái mà nó tách biệt. Điều này vẫn dẫn ta đến kết luận rằng mọi cái “tôi” đều tương đồng, nói cách khác là một “cái tôi rộng hơn”, “cái tôi vô hạn”, “cái tôi vũ trụ”. Mọi con đường đều dẫn đến việc phủ nhận “cái tôi cá nhân” trong chúng ta, và quan niệm “tự do ý chí” chẳng còn cơ sở để tồn tại. Vì vậy, tự do ý chí chỉ là một quan điểm đến từ cái “tôi” tham vọng của chúng ta.
Giống như một lớp vỏ bọc, cái “tôi” giúp ta định hình bản thân, nhưng đồng thời cũng là ranh giới tạo nên sự chia rẽ giữa con người và thế giới xung quanh. Điều này khiến ta tin rằng mình là người đứng riêng và nảy sinh quan điểm về sự tự chủ. Trong khi trên cùng một quy luật vận động của vũ trụ, mọi thứ đều liên kết và chuyển động theo những mô thức đã định sẵn.
Sự tự vận động
Sự vận động xảy ra khi có hai đối tượng tách biệt không cùng tần số, cái này vận động và cái còn lại dường như đứng yên. Sự vận động tồn tại chỉ khi có sự chênh lệch trạng thái. Nếu tất cả mọi thứ tồn tại cùng một tần số, ta sẽ không nhận ra được sự chuyển động. Sự vận động không chỉ đơn thuần là di chuyển trong không gian, mà là biểu hiện của sự lệch pha, của quá trình tương tác giữa những năng lượng với các tần số khác nhau.
Sự vận động xảy ra khi có sự khác biệt. Tận cùng của sự khác biệt là đối lập. Sự sống năng động được thể hiện qua hành trình liên tục từ một cực này sang cực kia, như một chuỗi các pha chuyển tần số, liên kết tất cả thành một tổng thể cân bằng. Do đó, nguồn gốc của sự sống năng động bắt đầu từ hai mặt đối lập, và nó biểu hiện ngay trong cách ta nhìn nhận mọi thứ. Hầu hết các sự vật và hiện tượng được ý thức nhìn nhận như là nằm trong một dải nối giữa hai cực đối lập nhau, chúng diễn tiến từ cực đoan này đến cực đoan khác: nóng thành lạnh, lạnh thành nóng, sáng thành tối, tối thành sáng, vui thành buồn, buồn thành vui, yêu thành ghét, ghét thành yêu,… Đó là biểu hiện của sự sống năng động trong ta.
Sự khác biệt tần số khiến một đối tượng dường như biến mất khỏi vị trí ban đầu đối với chủ thể, và ở một vị trí khác có tần số tương ứng với chủ thể, ta lại thấy sự xuất hiện của đối tượng đó, nó dường như đã di chuyển vị trí. Sự vận động không cùng tần số khiến một đối tượng rơi vào trạng thái “không tồn tại” đối với đối tượng khác, nhưng không phải hư vô tuyệt đối. Cái chết không phải là biến mất hoàn toàn, mà chỉ là một ranh giới chuyển đổi từ hình thái này sang hình thái khác, giống như đang ở một cõi khác (thế giới khác). Thay vì coi nó là sự biến mất hoàn toàn, ta có thể nhìn nhận cái chết như một sự thay đổi tần số, nơi mà bản chất của sự sống được tái sinh liên tục trong dòng chảy năng lượng vô tận. Không có trạng thái “bất tử cố định”, bởi vì biểu hiện của sự sống nằm ở sự vận động và thay đổi không ngừng.
Hai mặt đối lập luôn cân bằng trong tổng thể. Nhưng trong từng phạm vi và mỗi khía cạnh luôn có sự mất cân bằng. Đó là dấu hiệu của sự khác biệt và chính là động lực của sự vận động. Bản chất cố hữu đó thúc đẩy sự tự vận động tạo nên dòng chảy vũ trụ vô tận. Nếu không có chênh lệch, mọi thứ sẽ trở nên đồng nhất đến mức không còn khả năng biến đổi. Ngược lại, chính sự mất cân bằng tạm thời, khi một khía cạnh nổi lên so với phần còn lại, mới tạo ra một khoảng trống cho sự chuyển hóa, cho cái mà ta gọi là “sự sống năng động”. Nếu vũ trụ mất cân bằng thì phần chênh lệch có thể coi là điểm dừng tuyệt đối hoặc hư vô tuyệt đối, chính điều đó tự phủ nhận sự tồn tại của một thực thể tách mình ra khỏi quy luật cân bằng của toàn thể vũ trụ.
Điều gì thúc đẩy vũ trụ vận động không ngừng? Sự thúc đẩy một cái vô hạn, nếu có bất cứ sự xác định nào, nó trở thành hữu hạn, và do đó, tự phủ nhận tính toàn năng và sự tồn tại của chính nó. Vì vậy, không có một điều gì bên ngoài kiểm soát và thúc đẩy sự vận động của vũ trụ. Vũ trụ không được kiểm soát bởi một thực thể độc lập, nên không có tương lai được định sẵn bởi một ý chí tách biệt, chỉ có sự chi phối và ràng buộc lẫn nhau của tất cả.
Sự tự vận động chính là một ý chí đang chi phối chính nó, không có ý chí tách biệt để điều khiển tất cả. Bản thân vũ trụ và chúng ta đang tự thúc đẩy chính mình. Mọi hệ thống không phục vụ một ý chí nào cả, chức năng duy nhất là duy trì chính nó, giống như một “chế độ độc tài không bạo chúa”.
Sự thúc đẩy của vũ trụ là ngẫu nhiên hay là một hệ thống? Khi bị khoanh vùng trong một giới hạn, ta nhìn ra ngoài ranh giới với sự bất định và ngẫu nhiên. Phần bên ngoài đang kiểm soát, còn bên trong thì không thể nắm bắt và tự chủ. Sự ngẫu nhiên khẳng định một giới hạn của vũ trụ và sự không tự chủ của nó. Nhưng vũ trụ là vô hạn và không bị kiểm soát bởi một thực thể độc lập. Điều đó chứng minh vũ trụ vận động luôn theo quy luật. Mọi mô thức tồn tại và cả con người cũng đều thuộc về các quy luật. Dù ta cảm nhận bên ngoài là một thế giới rối rắm với những biến đổi ngẫu nhiên, toàn thể vũ trụ vẫn vận hành theo một hệ thống tổng thể, nơi các quy luật nhỏ và lớn ràng buộc chặt chẽ với nhau. Con người có tiềm năng tìm đến một quy luật lớn hơn mình, bởi sự ngẫu nhiên tồn tại chỉ khi chúng ta đồng nhất mình với cái “tôi” nhỏ hẹp.
Chân lý về sự tự vận động mở ra lối thoát khỏi ảo ảnh của sự kiểm soát từ bên ngoài. Khi ta học cách không rơi vào cạm bẫy của những giới hạn cố định và nhìn nhận được cấu trúc, các quy luật chi phối vũ trụ, ta dần đạt tới một trạng thái tĩnh lặng, một sự bình tĩnh không bị cuốn theo dòng chảy hỗn mang.
Tri thức
Con người quan sát tự nhiên và nhận ra điểm tương đồng, từ đó tìm thấy quy luật và đúc kết thành công thức. Công thức mà chúng ta có được thực chất là sự đúc kết từ những quan sát giới hạn trong một phạm vi hiện tượng nhất định. Tự nhiên không có công thức, chúng ta mới là người “khoanh vùng”. Quá trình này thực chất là sự đơn giản hóa thực tại để tâm trí con người có thể nắm bắt được.
Mọi mối liên hệ là có sẵn, con người chỉ dày công tiếp thu nó. Trước khi con người tìm ra công thức, phải có đối tượng hoặc trải nghiệm để có thể đúc rút. Đó là những bài học cơ sở từ mối liên kết với tự nhiên. Newton không “sáng tạo” định luật vạn vật hấp dẫn, ông chỉ phát hiện mối quan hệ vốn tồn tại trong tự nhiên.
Con người không thực sự tạo ra điều gì hoàn toàn mới, chỉ là khám phá được “nhiều” hay “ít” hơn trong giới hạn nhận thức của mình. Sự sáng tạo chỉ là áp dụng công thức cũ cho một đối tượng khác. Nhờ có ghi nhớ, con người tích lũy được thêm các công thức phức tạp hơn, từ đó có thêm nhiều kinh nghiệm trong việc chế tác và chuyển hóa lớp vỏ hiện tượng. Chuyển hóa theo các hình thái khác nhau, nhưng “bản thể” không tăng lên hay giảm đi, chỉ có các góc nhìn về nó thì ngày càng phức tạp và đa dạng hơn.
Chúng ta xây dựng logic từ những mẫu lặp lại trong tự nhiên, rồi biến chúng thành khung tư duy định hình thế giới, nhưng luôn quên rằng khung này chỉ phù hợp với một góc nhỏ của thực tại. Càng logic ta càng dễ đánh mất khả năng nhìn thấy những điều phi logic. Đó là chìa khóa để mở rộng ranh giới nhận thức của chính mình.
Logic là những hiện tượng lặp lại khiến nó trở thành định kiến. Nó định hướng cách chúng ta nên suy nghĩ để đi đến kết luận đúng đắn. Nếu một chuỗi sự việc xảy ra không khớp với dòng vận hành đó, ta nói nó ngẫu nhiên hoặc phi logic. Bất cứ điều gì chúng ta thấy vô lý là vì nó khác với định kiến mà nhân loại đã tích lũy trong không gian sống và giới hạn nhận thức của mình mà thôi.
Những định kiến đó tuy có thể giải thích nhiều hiện tượng và áp dụng vào cuộc sống con người, nhưng chỉ đúng trong một phạm vi nhất định. Vấn đề là khi ta chỉ có một bộ công cụ logic, ta lại cố gắng giải thích mọi hiện tượng bằng bộ công cụ đó.
Điều “vô lý” trong hệ giá trị này có thể hoàn toàn “hợp lý” trong hệ giá trị khác. Mọi “chân lý” đều mang tính tạm thời. Chúng ta đang sống trong “hang động” nhận thức của chính mình. Những gì ta coi là logic hôm nay có thể trở nên ngây thơ vào ngày mai. Vậy thì việc chấp nhận “sự mờ ảo” chính là đặc quyền của trí tuệ.
Tâm trí con người không thể xử lý mọi thông tin nên phải lập khuôn từ những mẫu lặp lại. Nhưng nó trở thành rào cản khi ta quên rằng “khuôn mẫu” chỉ là công cụ, chứ không phải chân lý. Logic chỉ là công cụ, chứ không phải nhà tù. Hãy là người vẽ bản đồ, chứ không phải nô lệ của bản đồ.
Logic của một thời đại là định kiến của thời đại sau:
– Trái đất phẳng từng là “logic” trong hàng nghìn năm.
– Thế kỷ 19: Các nhà khoa học khẳng định “trên trời không có thiên thạch”, vì quan sát cho thấy chúng “phi logic” (đất đá không thể rơi từ trời).
– Thế kỷ 21: Chúng ta coi “thời gian tuyến tính” là hiển nhiên, mãi đến khi thuyết tương đối chỉ ra thời gian co giãn trong trường hấp dẫn.
Những công thức hữu ích có lẽ chỉ là công cụ giúp ta xử lý dòng chảy tự nhiên của cảm xúc và mong muốn, làm rõ những dấu hiệu, nhân duyên mà vũ trụ biểu hiện. Chúng ta không đưa ra lựa chọn dựa trên những công thức, chúng chỉ là công cụ mang theo. Con người phi lý trí, dù ta có học được bao nhiêu công thức, ta vẫn không thoát ra được dòng chảy sâu thẳm của tâm thức, nơi sự thúc đẩy không đến từ những quy luật của “tâm tưởng giới hạn”, mà đến từ sự tự vận hành lớn lao của cuộc sống. Bước qua tính tương đối của mọi hệ thống nhận thức, chỉ khi buông bỏ mọi công thức, con người mới thực sự hiểu được vũ trụ. Như chiếc bình rỗng mới chứa được nước, tâm trí buông bỏ tri thức mới tiếp xúc thực tại.
Chúng ta cố chấp gán cho mọi thứ một lý do, một ý nghĩa và tìm cách chứng minh. Càng chứng minh lại càng biến hóa ra biết bao góc nhìn tương đối. Chúng ta cố gắng tìm kiếm quyền năng trong những điều xác định, nhưng việc tìm kiếm luôn khiến ta sa đà vào tiểu tiết mà không nhìn thấy điều lớn lao ngay bên cạnh. Các công thức như ngón tay chỉ trăng, hữu ích khi ta lạc đường, nhưng sẽ thành chướng ngại nếu tưởng đó là mặt trăng.
Càng mang nhiều tri thức ta càng bị trói buộc vào những định kiến sẵn có, và loay hoay trong những lối mòn. Đi tìm thực tại là đi tìm sự quên, ta đi tìm bằng cách không đi tìm. Thực tại sẽ chẳng lộ diện trước một tâm trí bị vây chặt bởi định kiến. Cái muôn vàn bị núp bóng và thực tại trở nên vô hình, vì một đôi mắt sáng chỉ khiến ta đui mù qua những gì nó nhìn thấy.
Ta sẽ dạo chơi qua nhiều công thức, nhưng chúng mau chóng trở nên nhàm chán. Có lẽ mục tiêu cuối cùng của chúng ta không phải là tìm kiếm hay xây dựng thêm công thức mới. Chỉ khi nào nhận ra sự vô nghĩa của chúng, ta mới tìm ra đích đến thực sự, đó là sự “dừng chân” của trí tuệ, nhưng không phải kết thúc, mà là sự khởi đầu vô tận. Đó là sự sống khi không còn bị khái niệm ngăn che.
Đọc các bài tương tự tại link sau:
Tâm và Đạo: Tôi là ai? (Phần 1)
Tâm và Đạo: Đạo Phật luận giải (Phần 2)