Can Chi có ý nghĩa thế nào trong Tử Vi? Ý nghĩa vòng Lộc Tồn (sao Can) và Thái Tuế (sao Chi)?…

MỤC LỤC

Ta thường học Tử Vi theo cách đơn giản nhất là áp dụng công thức mà ít khi hỏi tại sao nó lại như vậy? Các sách thì đầy, nhưng thường viết như cuốn từ điển, cứ thế mà ngồi tra cứu. Học phần ngọn như vậy thì tự xem được ngay, nhưng đúng sai chẳng biết, không biết biến hóa cho phù hợp…

 

Học công thức thì quá dễ, chỉ cần cái đầu biết chứa thông tin và biết làm toán là được, nên người ta thích gọi bộ môn này là lí số. Nhưng đấy chỉ là bề mặt, là kĩ thuật. Người xưa mượn các vì sao để mã hoá toàn bộ hệ sinh thái phức tạp của con người và xã hội. Muốn giải mã, muốn hiểu dụng ý sâu xa phải truy về nền tảng nguyên thủy.

 

Tử Vi là sự giao thoa giữa bói toán và chiêm tinh. Nhưng các sao an vào địa bàn không phải tinh đẩu thật mà chỉ là sự vay mượn để đưa nhân sinh quan vào lá số. Các tinh đẩu trong lá số không tương ứng với vị trí trên bầu trời. Ngay cả khái niệm Can Chi cũng là sự vay mượn từ lịch pháp.

 

Khái niệm Can Chi bắt đầu từ lịch pháp nên trước hết nói qua về lịch pháp…

 

Các đối tượng không gian như Mặt Trời, Mặt Trăng, Trái Đất là những yếu tố cơ bản quy định thời gian. Sự thay đổi liên tục của không gian tạo nên định nghĩa về thời gian. Khi sự thay đổi đó có tính chu kì (năm, tháng, ngày, giờ), người ta đưa vào đó các yếu tố cụ thể để minh họa cho các chu kì thời gian, đó là Thiên Can và Địa Chi. Các chu kì năm, tháng, ngày, giờ đều được minh họa bằng Can Chi, từ đó tạo nên bộ lịch hoàn chỉnh.

 

Sự thống nhất giữa không gian và thời gian là vòng khép kín gắn chặt con người nói riêng và sự sống nói chung với vũ trụ.

 

– Tại sao có 12 Địa Chi?

 

Năm âm lịch được chia nhỏ thành 12 tháng. 12 tháng âm lịch ứng với 12 lần Mặt Trăng quay quanh Trái Đất. Người xưa minh họa con số 12 bằng 12 Địa Chi. Nó cũng được ứng dụng để chia nhỏ thời gian trong 1 ngày thành 12 giờ (giờ Tí, giờ Sửu…).

 

Gọi là Địa bàn vì nó được tạo bằng 12 ô tương ứng với 12 Địa Chi. Địa Chi được dùng để gọi tên 12 vị trí trên lá số – 12 cung vị.

 

12 cung Địa Chi chia cắt thành 4 mùa Xuân (Mộc), Hạ (Hoả), Thu (Kim), Đông (Thủy) và các tháng giao mùa (Thổ). Đây là sự thể hiện của vật chất trên Trái Đất khi quay quanh Mặt Trời.

 

Khi an sao, 12 cung cũng tương ứng với lộ trình 12 tháng và 12 giờ khi đếm thuận/nghịch theo tháng sinh và giờ sinh.

 

Địa Chi đầu tiên là Dần (tháng 1 âm lịch luôn là tháng Dần) chứ không phải Tí. Vì theo lịch Mặt Trăng tháng Dần là tháng khởi đầu mùa xuân, cây cối đâm chồi (hành Mộc), nên cung Dần trên là số là hành Mộc. Người xưa làm nông nghiệp theo mùa vụ, mà mùa vụ lại gắn với Mặt Trăng (xem Mặt Trăng để gieo trồng), điều này tương ứng với quan sát nông lịch. Vì vậy, việc đếm thuận/nghịch (khi an sao) theo tháng sinh luôn bắt đầu từ tháng Dần. Còn việc đếm thuận/nghịch theo giờ sinh vẫn bắt đầu từ giờ Tí.

 

Có một điều rất quan trọng khi tìm hiểu Tử Vi là việc phân biệt các sao an theo Can, Chi, Cục, ngày, tháng và giờ.

 

Ở trên tôi vừa nói về các sao tháng và giờ được xác định theo Địa Chi (đếm thuận/nghịch trên 12 cung). Vậy còn ngày sinh có ý nghĩa gì trong việc an sao?

 

Ngày sinh không có cơ sở để ứng dụng 12 Địa Chi như tháng và giờ. Nên các sao ngày được xác định bằng cách kết hợp với sao tháng và sao giờ. Sao ngày chỉ có 4 sao. Trong đó, có 2 sao dùng ngày sinh kết hợp với sao tháng, và 2 sao còn lại dùng ngày sinh kết hợp với sao giờ.

 

Ta có:

2 sao ngày Thai Tọa được an từ sao tháng Tả Hữu.

2 sao ngày Quang Quý được an từ sao giờ Xương Khúc.

 

– Các sao an bằng năm sinh? Ý nghĩa vòng Lộc Tồn (sao Can) và Thái Tuế (sao Chi)?

 

Năm sinh được gọi tên bằng cách ghép cặp Thiên Can và Địa Chi. Từ Can Chi năm sinh ta có 2 vòng sao, 1 an từ Can (vòng Lộc Tồn) và 1 an từ Chi (vòng Thái Tuế).

 

Sự phân biệt các sao an từ Thiên Can (năm sinh) hay từ Địa Chi (năm sinh) giúp ta xác định bản chất của sao đó. Ta cần phân biệt sao nào thuộc Thiên và sao nào thuộc Địa. Vì vòng Lộc Tồn (sao Can) tượng trưng cho hoàn cảnh. Còn vòng Thái Tuế (sao Chi) tượng trưng cho thái độ, cách phản ứng… Khi luận giải không thể bỏ qua điều này.

 

Các sao vòng Thái Tuế (sao Chi) là nói về thái độ, cách phản ứng…, ví dụ:

– Biết nhường nhịn và chịu thiệt về bản thân (Âm Long Trực).

– Cảm thấy bất mãn và muốn đấu tranh (Tang Tuế Điếu).

– Sáng suốt bỏ qua (Thiếu Dương + Thiên Không).

– …

 

Còn các sao vòng Lộc Tồn (sao Can) là nói về hoàn cảnh tác động đến ta, ví dụ:

– Cơ hội về tài lộc (Lộc Tồn).

– Tiểu nhân rình rập (Phục Binh).

– Quý nhân giúp (Khôi Việt).

– …

 

(2 vòng Tồn và Tuế an bằng Can Chi của năm sinh nên ta có thể coi đây là những sao năm.)

 

– Tại sao có 10 Thiên Can?

 

Người xưa nhìn lên trời quan sát thấy Ngũ tinh (5 hành tinh có thể nhìn thấy bằng mắt thường): Mộc, Hoả, Thổ, Kim, Thủy. Dựa theo chu kì vận động của Ngũ tinh mà vẽ ra Hà Đồ. Chữ “hành” trong “Ngũ hành” không phải nguyên tố, “hành” ở đây là “hành trình” (chỉ sự vận động của 5 hành tinh). Các nguyên tố vật lí chỉ là tượng hình cho 5 loại “khí” (năng lượng) giáng xuống này.

 

Khi kết hợp với hai trạng thái Âm và Dương, ta có:

Dương Mộc → Giáp

Âm Mộc → Ất

Dương Hoả → Bính

Âm Hoả → Đinh

Dương Thổ → Mậu

Âm Thổ → Kỷ

Dương Kim → Canh

Âm Kim → Tân

Dương Thủy → Nhâm

Âm Thủy → Quý

 

Vậy: 5 hành x 2 (Âm Dương) = 10 Thiên Can.

 

Thiên Can là biểu hiện của “khí” trời, thuần túy về năng lượng, không có tượng hình như Địa Chi. Người xưa dùng hình tượng (12 con vật tương ứng với 12 tháng, 12 giờ) để dạy Chi, nhưng Can thì trừu tượng hơn.

 

– Cục là gì?

 

Cung Mệnh được xác định bằng tháng và giờ sinh, đếm thuận/nghịch theo Địa Chi. Đây là mảnh đất lọt lòng, là nơi sinh mệnh bám rễ.

 

Cục được xác định căn cứ vào Thiên Can và cung Mệnh. Cục là kết quả sự tương tác giữa Thiên và Địa. Cục là môi trường, là không gian sống, là sự giao hòa giữa Thiên (Can năm sinh) và Địa (mảnh đất lọt lòng). Con người (Nhân) ở trong không gian đó, sống giữa trời đất, nương tựa vào “hình đất” (Địa) và chịu sự chi phối của “khí trời” (Thiên).

 

Cục là môi trường nên xét theo ngũ hành của Cục và Mệnh nạp âm ta có:

– Cục sinh Mệnh (môi trường sinh cho bản thân) là kẻ may mắn, hoàn cảnh thuận lợi, lắm cơ hội đến với mình.

– Mệnh sinh Cục (bản thân sinh cho môi trường) thì mình giúp được người khác, người khác chưa chắc giúp được mình. Phải cho chứ không được. Phải phục vụ, cống hiến, hi sinh, bán mình… Phải chạy theo xã hội để kiếm sống, cho nên dù có khá giả cũng trầy da tróc vẩy.

– Cục khắc Mệnh thì gặp nhiều rào cản, sinh ra không gặp thời, bản thân vất vả vì môi trường sống không thích hợp với tài năng mình.

– Mệnh khắc Cục là mình từ chối môi trường, nên tự mình không có chỗ đứng, phải vất vả để kiếm sống.

– Mệnh và Cục cùng một hành thì bình thường, có làm thì mới có ăn.

 

Từ Cục cho ra vị trí của các chính tinh. Chính tinh là sự biểu hiện của tính cách con người trong môi trường của Cục.

 

– Tại sao chính tinh mới có hóa khí?

 

Phụ tinh chỉ mang một yếu tố đơn lẻ là Địa Chi (vòng Thái Tuế và các sao tháng ngày giờ) hoặc Thiên Can (vòng Lộc Tồn).

 

Chỉ có chính tinh mới được an bằng Cục, nên chính tinh là kết quả của sự thai nghén giữa Thiên và Địa. Điều này khiến chính tinh trở thành nòng cốt. Các chính tinh lấy Cục làm cơ sở, chúng mang bản chất của sự gặp gỡ giữa Thiên và Địa. Cho nên Tứ Hóa chỉ có thể là hóa khí của chính tinh. Vì Tứ Hóa được sinh ra nhờ có “khí trời” (Thiên) tác động lên “hình đất” (Địa) mà sinh ra biến hóa.

 

Tứ Hóa sinh ra từ Thiên Can (khí trời) của 1 năm làm cho vạn vật dưới đất biến hóa theo 4 mùa. Mặt đất khi tiếp nhận khí trời sẽ sinh ra các hiện tượng: sinh sôi (Lộc), cường thịnh (Quyền), thành tựu (Khoa), suy tàn (Kị). Chính tinh có vai trò biểu hiện sự biến hóa đó.

 

Trong hệ chuẩn, chỉ chính tinh được hóa khí. Nhưng không rõ tại sao về sau Can năm làm cho cả phụ tinh (Xương Khúc Tả Hữu) cũng hóa khí. Tứ Hóa cốt chỉ dành cho chính tinh, nhưng một số phái về sau vì muốn làm giàu lá số đã tự thêm “Tứ Hóa phụ tinh”.

 

Hơn nữa, 4 phụ tinh này an bằng tháng và giờ, tức là gắn với chu kì nhỏ hơn, nên cũng không đủ tầm ảnh hưởng để hóa khí trên bình diện Can năm.

 

Việc mở rộng ra phụ tinh là cải biên thời cận hiện đại do một số trường phái muốn tăng tính diễn giải. Thói quen này phổ biến trong dân gian, nhưng không có trong giáo lí cổ điển.

 

– Tại sao chính tinh có Ngũ Hành?

 

Tứ Hóa tượng trưng cho 4 mùa biến hóa trong một năm. Tứ Hóa được xác định bằng Thiên Can năm. Mỗi chính tinh cũng được gán cho một Thiên Can. Và ngũ hành của chính tinh cũng được lấy từ ngũ hành Thiên Can. Âm Dương của chính tinh cũng được lấy từ Âm Dương của Thiên Can.

 

Ta có:

Tử Vi – Kỉ – Thổ – Âm

Thiên Cơ – Ất – Mộc – Âm

Thái Dương – Bính – Hoả – Dương

Vũ Khúc – Tân – Kim – Âm

Thiên Đồng – Nhâm – Thủy – Dương

Liêm Trinh – Đinh – Hoả – Âm

Thiên Phủ – Mậu – Thổ – Dương

Thái Âm – Quý – Thủy – Âm

Tham Lang – Quý – Thủy – Âm

Cự Môn – Quý – Thủy – Âm

Thiên Tướng – Nhâm – Thủy – Dương

Thiên Lương – Ất – Mộc – Âm

Thất Sát – Tân – Kim – Âm

Phá Quân – Quý – Thủy – Âm

 

Như vậy: 6 Thủy, 2 Thổ, 2 Hoả, 2 Mộc, 2 Kim.

 

– Ngũ Hành chỉ là công cụ để diễn đạt mang tính tương đối:

 

Trời ở trên cao, đất ở dưới thấp, bản chất là hai hệ quy chiếu hoàn toàn khác biệt. Chính vì là hai phạm trù khác biệt (khí thiên, hình địa) nên để minh họa sự tương tác với nhau phải thông qua một trung gian, chính là Ngũ Hành.

 

Trời dùng Ngũ Hành để biểu hiện sự phóng chiếu năng lượng (“khí”). Đất dùng Ngũ Hành để biểu hiện vật chất (“hình”). Thông qua một ngôn ngữ chung Ngũ Hành, người xưa có thể mô tả “khí” của trời mới giáng xuống làm biến đổi vạn vật dưới mặt đất.

 

Tử Vi ứng dụng Ngũ Hành như một công cụ giúp minh họa số mệnh con người. Việc hiểu chúng như 5 nguyên tố chỉ mang tính tượng hình. Ngũ Hành chỉ là công cụ để minh họa giúp cho việc diễn đạt, nó mang tính tương đối, đúng ở đây lại có thể không đúng ở kia, nên không thể áp dụng máy móc vào tất cả mọi trường hợp.

 

Khi luận đoán không phải cứ thấy bí là đem vật lí cơ học ra luận, sai bét. Và cũng đừng ai đem bảng tuần hoàn hóa học vào bắt bẻ cách diễn đạt tượng hình của người xưa.

 

Vài ví dụ về ứng dụng ngũ hành:

1. “Tử Vi cư Ngọ, vô sát tinh, vị chí tam công”: Cung Ngọ mang hành Hoả. Sao Tử Vi mang hành Thổ. Theo nguyên lí ngũ hành, Hoả sinh Thổ. Cung địa chi sinh xuất cho chính tinh toạ thủ, giúp Tử Vi trở thành miếu vượng. Nhờ vậy, đương số phát huy tối đa tư chất lãnh đạo, dễ dàng đạt được vị trí tôn quý.

2. “Cự Nhật Dần Thân, quan phong tam đại”: Tại cung Dần mang hành Mộc, Cự Môn mang hành Thủy và Thái Dương mang hành Hoả. Ta có chuỗi tương sinh liên hoàn: Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hoả. Cự Môn dung dưỡng mảnh đất Dần, rồi cung Dần lại tiếp lửa cho Thái Dương rực rỡ toả sáng. Sự tương tác ngũ hành này làm tiêu tan tính ám muội của Cự Môn, tạo nên một cách cục quyền quý.

3. “Tham Ngộ Dương Đà cư Hợi Tí, danh vi phiếm thủy đào hoa”: Tham Lang hành Thủy. Kình Đà hành Kim. Cung Hợi, Tí hành Thủy. Tham Lang vốn dĩ là sao đào hoa mang nhiều thủy tính. Khi toạ lạc tại hai cung Hợi và Tí (đều thuộc hành Thủy), yếu tố Thủy được nhân lên gấp bội. Cách cục này lại hội họp sát tinh Kình Đà thuộc hành Kim. Theo nguyên lí Kim sinh Thủy, hai phụ tinh này không những không khắc chế được mà còn liên tục bơm thêm năng lượng, tiếp thêm nước cho cung vị vốn đã ngập lụt. Đây gọi là cách hoa đào trôi trên dòng nước lớn, tượng trưng cho sự buông thả, dâm đãng, dễ sa ngã vào tửu sắc và có một cuộc đời trôi nổi, bấp bênh.

 

Ngũ Hành là công cụ hay ho trong việc phân tích, lí giải các mối quan hệ phức tạp giữa các sao, cung và vận hạn. Nhưng luận ngũ hành trong một số tình huống thì đúng, còn trong tình huống sao khác, cung khác thì luận theo Ngũ Hành lại không đúng. Vì sao? Vì đây là kinh nghiệm đúc kết và gán biểu tượng vào.

Chia sẻ:
Facebook
Bài viết liên quan

Giác quan của con người là những bộ lọc hữu hạn. Thị lực, thính lực, xúc giác,… đều có ngưỡng trên và ngưỡng dưới. Thực tại mà ta trải nghiệm hàng ngày chỉ là một phiên bản rút gọn của thế giới khách quan, được chọn lọc và giới hạn...

Có phải cứ nhiều chi tiết mới là giàu có? Tối giản không phải là nghèo nàn, mà là năng lực nhận ra cái cốt lõi.   Tối giản không đơn thuần là loại bỏ để trở nên trống rỗng. Một căn phòng trống trơn không phải là tối giản...

Chủ nghĩa Siêu thực chỉ ra một con đường tiếp cận những lĩnh vực mà lý trí đã bỏ qua: thế giới của giấc mơ và vô thức. Đó là sự hiểu biết toàn diện hơn về bản thân và hiện thực, vượt ra ngoài giới hạn của lý trí....

Nghệ thuật từng được dùng để chỉ sự xuất sắc trong một công việc: nghệ thuật đóng giày, nghệ thuật rèn đúc,… Nhưng khi đã làm tốt nhất việc đó rồi, cái ta muốn tiếp theo là một sự đổi mới, và trong vòng lặp của sự phát triển, nghệ...

NỔI BẬT
Theo dõi chúng tôi trên MXH:
Liên hệ:
contact.hbth@gmail.com
© 2023 hatbuitamhon. All rights reserved.
Scroll to Top