Can Chi có ý nghĩa thế nào trong Tử Vi? Ý nghĩa vòng Lộc Tồn (sao Can) và Thái Tuế (sao Chi)? Tại sao lại có Thủy Cục, Mộc Cục, Kim Cục, Thổ Cục, Hoả Cục?

MỤC LỤC

Người xưa xác định thời gian bằng việc quan sát thiên văn. Sự vận động của các đối tượng không gian như Mặt Trời, Mặt Trăng, Trái Đất là những yếu tố cơ bản quy định thời gian. Những xoay chuyển đó cũng ảnh hưởng và chi phối cuộc sống con người…

 

Sự thay đổi liên tục của không gian tạo nên định nghĩa về thời gian. Khi sự thay đổi đó có tính chu kì (năm, tháng, ngày, giờ), người xưa đưa vào đó các yếu tố cụ thể để minh hoạ cho các chu kì thời gian, đó là Thiên Can và Địa Chi.

 

Sự phân bố của thiên văn và sự tồn tại của con người dưới đất có một sự tương ứng, tương tác. Từ các chu kì thiên văn, đến các biến đổi vật lí dưới đất (thời tiết, thủy triều, mùa màng…), người xưa tin rằng có một sự tương ứng giữa các hiện tượng trên trời và các sự kiện dưới đất. Con người (Nhân) tồn tại trong không gian đó, sống giữa trời đất, nương tựa vào “hình đất” (Địa) và chịu sự chi phối của “khí trời” (Thiên). Do đó, luôn tồn tại mối liên kết thống nhất gắn chặt con người nói riêng và sự sống nói chung với vũ trụ. Thời khắc một người sinh ra (năm, tháng, ngày, giờ) là một “tọa độ” ghi lại trạng thái năng lượng của vũ trụ tại chính khoảnh khắc đó.

 

Với hiểu biết đó, người xưa mượn ngôn ngữ của các vì sao để giải mã những quy luật vô hình của số mệnh.

 

Tuy nhiên, ngoài việc soi xét sự áp đặt trật tự từ vũ trụ vĩ mô (chiêm tinh), còn một lăng kính từ chính kinh nghiệm sống thực tiễn của con người. Đây chính là ranh giới phân định giữa thiên văn học và “chiêm tinh học nhân sinh”. Sự sáng tạo các “hư tinh” (sao không có thật) trên lá số chính là việc đúc kết các nguyên mẫu tâm lí, các hoàn cảnh điển hình và các mô hình xác suất thống kê vào những biểu tượng cụ thể. Đời sống con người vốn phức tạp, dung chứa vô vàn biến số về tâm lí, hoàn cảnh xã hội và các mối quan hệ đan xen. Điều này giúp hệ thống hoá sự hỗn mang của đời người thành những lớp lang tinh tế và tỉ mỉ. Biến những mô hình quan sát phức tạp thành một bức tranh biểu tượng dễ chiêm nghiệm và ứng dụng.

 

12 Địa Chi cũng là những ẩn dụ để mô tả tập tính, trạng thái và nhịp điệu sinh học của vạn vật qua từng giai đoạn thời gian.

 

Khái niệm Can Chi bắt đầu từ lịch pháp nên trước hết nói qua về lịch pháp…

 

Lịch pháp có 60 tổ hợp từ Giáp Tí đến Quý Hợi do ghép cặp 10 Thiên Can và 12 Địa Chi. Trong đó, cứ 10 cặp thành một tổ gọi là “tuần”. Mỗi một tổ đều lấy Giáp đứng đầu, lấy Quý đứng cuối, và 1 tuần trong lịch cổ đại sẽ là 10 ngày, 1 tháng có Thượng tuần (1-10), Trung tuần (11-20), Hạ tuần (21-30).

 

Người xưa minh hoạ 12 tháng bằng 12 Địa Chi. Nó cũng được ứng dụng để chia nhỏ thời gian trong 1 ngày thành 12 giờ (giờ Tí, giờ Sửu…).

 

Gọi là Địa bàn vì nó được tạo bằng 12 ô tương ứng với 12 Địa Chi. Địa Chi được dùng để gọi tên 12 vị trí trên lá số – 12 cung vị – 12 vùng đất.

 

Khi an sao, 12 cung cũng tương ứng với lộ trình 12 tháng và 12 giờ khi đếm thuận/nghịch theo tháng sinh và giờ sinh.

 

Người xưa làm nông nghiệp theo mùa vụ, theo nông lịch tháng Dần là tháng khởi đầu mùa xuân, cây cối đâm chồi (hành Mộc), nên cung Dần trên là số là hành Mộc. Địa Chi đầu tiên là Dần chứ không phải Tí. Vì tháng 1 âm lịch (tháng Giêng) luôn là tháng Dần. Do đó việc đếm thuận/nghịch (khi an sao) theo tháng sinh luôn bắt đầu từ tháng Dần. Còn việc đếm thuận/nghịch theo giờ sinh vẫn bắt đầu từ giờ Tí.

 

Thiên Can là biểu hiện của “khí” trời, thuần túy về năng lượng, không có tượng hình như Địa Chi. Người xưa dùng hình tượng (12 con vật tương ứng với 12 tháng và 12 giờ) để dạy Chi, nhưng Can thì trừu tượng hơn.

 

Trời ở trên cao, đất ở dưới thấp, bản chất là hai hệ quy chiếu hoàn toàn khác biệt. Chính vì là hai phạm trù khác biệt (khí thiên, hình địa) nên để minh hoạ sự tương tác với nhau phải thông qua một trung gian, chính là Ngũ Hành.

 

Trời dùng Ngũ Hành để biểu hiện sự phóng chiếu năng lượng (“khí”). Đất dùng Ngũ Hành để biểu hiện vật chất (“hình”). Thông qua một ngôn ngữ chung Ngũ Hành, người xưa mô tả “khí” của trời giáng xuống làm biến đổi vạn vật dưới mặt đất.

 

* Ý nghĩa vòng Lộc Tồn (sao Can) và Thái Tuế (sao Chi)?

 

Có một điều rất quan trọng về Tử Vi là việc phân biệt các sao an theo Can, Chi, Cục, ngày, tháng và giờ.

 

Năm sinh được gọi bằng cách ghép cặp Thiên Can và Địa Chi. Từ Can Chi năm sinh ta có 2 vòng sao, 1 an từ Can (vòng Lộc Tồn) và 1 an từ Chi (vòng Thái Tuế).

 

Sự phân biệt các sao an từ Thiên Can (năm sinh) hay từ Địa Chi (năm sinh) giúp ta xác định bản chất của sao đó. Vì trong 3 vòng nhân sinh: Vòng Lộc Tồn (sao Can) tượng trưng cho hoàn cảnh. Còn vòng Thái Tuế (sao Chi) tượng trưng cho thái độ, cách phản ứng…

 

Các sao vòng Thái Tuế (sao Chi) là nói về thái độ, cách phản ứng…, ví dụ:

– Biết nhường nhịn và chịu thiệt về bản thân (Âm Long Trực).

– Cảm thấy bất mãn và muốn đấu tranh (Tang Tuế Điếu).

– Sáng suốt bỏ qua (Thiếu Dương + Thiên Không).

– …

 

Còn các sao vòng Lộc Tồn (sao Can) là nói về hoàn cảnh tác động, ví dụ:

– Cơ hội về tài lộc (Lộc Tồn).

– Tiểu nhân rình rập (Phục Binh).

– Có tin vui (Hỉ Thần).

– …

 

(Gọi là vòng vì luôn đủ 12 sao nối tiếp nhau trên 12 cung, mỗi cung an lần lượt 1 sao tạo thành một vòng khép kín.)

 

Cho nên mới nói:

– Can sinh Chi (môi trường sinh cho bản thân) là kẻ may mắn, hoàn cảnh thuận lợi, lắm cơ hội đến với mình.

– Chi sinh Can (bản thân sinh cho môi trường) thì mình giúp được người khác, người khác chưa chắc giúp được mình. Phải cho chứ không được. Phải phục vụ, cống hiến, hi sinh, bán mình…

– Can khắc Chi thì bản thân gặp nhiều rào cản.

– Chi khắc Can là mình từ chối môi trường, nên tự mình không có chỗ đứng, phải vất vả để kiếm sống.

– Chi và Can cùng một hành thì bình thường, có làm thì mới có ăn.

 

Các sao tháng và giờ được xác định theo Địa Chi tháng và giờ (đếm thuận/nghịch trên 12 cung). Còn 2 vòng Tồn và Tuế an bằng Can Chi của năm sinh nên ta có thể coi đây là những sao năm.

 

* Tại sao lại có Thủy Cục, Mộc Cục, Kim Cục, Thổ Cục, Hoả Cục?

 

Nếu Mệnh là ta thì Cục là môi trường từ buổi lọt lòng… Đó là mảnh đất ban đầu vun đắp bản thân ta. Hạt giống tốt cần mảnh đất tốt (phù hợp). Khoảng thời gian đó kéo dài bao lâu thì tùy thuộc vào số Cục.

 

→ Cục là môi trường nên Ngũ Hành Cục chính là Nạp Âm của cặp Can Chi cung Mệnh.

→ Mà Can cung mệnh xác định bằng Can năm sinh và Chi cung Mệnh.

→ Cho nên Cục mới được xác định từ Can năm sinh và Chi cung Mệnh.

 

Nếu không tra bảng có sẵn thì một cách khác để tìm Ngũ Hành của Cục là lấy cặp Can Chi cung Mệnh đối chiếu theo 60 Hoa Giáp chính là Nạp Âm của Cục.

 

Can của cung Mệnh được xác định bằng Ngũ Hổ Độn (khởi từ Dần). Từ nguồn gốc đó, cho nên Cục số cũng phải khởi từ Dần.

 

Ta biết rằng, chính tinh được an từ Cục và ngày sinh…

 

Nhìn vào bảng tra Cục (để an chính tinh) sẽ thấy ngay:

– Nhị Cục: ngày 2 luôn ở Dần, các cung tiếp theo tịnh tiến +2

– Tam Cục: ngày 3 luôn ở Dần, các cung tiếp theo tịnh tiến +3

– Tứ Cục: ngày 4 luôn ở Dần, các cung tiếp theo tịnh tiến +4

– Ngũ Cục: ngày 5 luôn ở Dần, các cung tiếp theo tịnh tiến +5

– Lục Cục: ngày 6 luôn ở Dần, các cung tiếp theo tịnh tiến +6

 

(Bảng tra Cục theo Vân Đằng Thái Thứ Lang.)

 

Chi tiết hơn, ví dụ với Tứ Cục như sau…

 

Tập hợp 30 ngày trong tháng được chia đều thành 4 dãy số, mỗi số trong dãy cách nhau đúng 4 đơn vị:

Dãy 1 bắt đầu từ ngày 1: 1, 5, 9, 13, 17, 21, 25, 29

Dãy 2 bắt đầu từ ngày 2: 2, 6, 10, 14, 18, 22, 26, 30

Dãy 3 bắt đầu từ ngày 3: 3, 7, 11, 15, 19, 23, 27

Dãy 4 bắt đầu từ ngày 4: 4, 8, 12, 16, 20, 24, 28

 

Tứ Cục có 4 dãy. Các Cục còn lại cũng tương tự: Nhị thì 2 dãy, Tam thì 3 dãy, Ngũ thì 5 dãy, Lục thì 6 dãy.

 

Nếu ngày 4 luôn bắt đầu ở Dần thì các ngày 3, 2, 1 bắt đầu ở cung nào? Xin trả lời là theo quy tắc “chẵn tiến – lẻ lùi” (theo chiều kim đồng hồ). Cụ thể như sau…

 

Từ mốc số 4, ta sẽ tìm ra vị trí của các số 3, 2 và 1:

Dãy 4 thì 4 – 4 = 0 → Không di chuyển

Dãy 3 thì 4 – 3 = 1 → Số lẻ nên ngày 3 lùi 1 cung

Dãy 2 thì 4 – 2 = 2 → Số chẵn nên ngày 2 tiến 2 cung

Dãy 1 thì 4 – 1 = 3 → Số lẻ nên ngày 1 lùi 3 cung

 

Tóm lại, nguyên tắc của Cục số là luôn bắt đầu ở Dần.

 

Mệnh và Cục đều dùng chung một quy tắc Ngũ Hành Nạp Âm của 60 Hoa Giáp. Chỉ khác là Cục khởi từ Dần, còn Mệnh khởi từ Tí.

 

Nếu chu kì của 60 Hoa Giáp bắt đầu từ 6 con Giáp:

– Giáp Tí…

– Giáp Tuất…

– Giáp Thân…

– Giáp Ngọ…

– Giáp Thìn…

– Giáp Dần…

 

Thì cũng theo chuỗi 60 cặp Can Chi đó… Ngũ Hổ Độn bắt đầu từ 5 cặp Dần:

– Bính Dần…

– Mậu Dần…

– Canh Dần…

– Nhâm Dần…

– Giáp Dần…

 

Lộ trình cụ thể là:

– Bính Dần, Đinh Mão, Mậu Thìn, Kỉ Tị, Canh Ngọ, Tân Mùi, Nhâm Thân, Quý Dậu, Giáp Tuất, Ất Hợi, Bính Tí, Đinh Sửu.

– Mậu Dần, Kỉ Mão, Canh Thìn, Tân Tị, Nhâm Ngọ, Quý Mùi, Giáp Thân, Ất Dậu, Bính Tuất, Đinh Hợi, Mậu Tí, Kỉ Sửu

– Canh Dần, Tân Mão, Nhâm Thìn, Quý Tị, Giáp Ngọ, Ất Mùi, Bính Thân, Đinh Dậu, Mậu Tuất, Kỉ Hợi, Canh Tí, Tân Sửu.

– Nhâm Dần, Quý Mão, Giáp Thìn, Ất Tị, Bính Ngọ, Đinh Mùi, Mậu Thân, Kỉ Dậu, Canh Tuất, Tân Hợi, Nhâm Tí, Quý Sửu.

– Giáp Dần, Ất Mão, Bính Thìn, Đinh Tị, Mậu Ngọ, Kỉ Mùi, Canh Thân, Tân Dậu, Nhâm Tuất, Quý Hợi, Giáp Tí, Ất Sửu.

 

(Lộ trình này vẫn là 60 Hoa Giáp chỉ là điểm bắt đầu tính từ các mốc Dần. Từ mỗi mốc Dần đi tiếp đều đủ 12 Chi.)

 

Ta sẽ chưa nói đến các con số của Cục mà đang nói đến việc xác định hành của Cục. Và việc xác định hành của Cục sẽ dựa vào cặp Can Chi cung Mệnh. Ta đã biết Chi, còn Can của cung Mệnh phải tính bằng Ngũ Hổ Độn.

 

Can của 12 cung Địa Chi được xác định như sau:

Năm sinh Giáp hay Kỉ khởi ở cung Bính Dần.

Năm sinh Ất hay Canh khởi ở cung Mậu Dần.

Năm sinh Bính hay Tân khởi ở cung Canh Dần.

Năm sinh Đinh hay Nhâm khởi ở cung Nhâm Dần.

Năm sinh Mậu hay Quý khởi ở cung Giáp Dần.

 

(Ngoài ra, Ngũ Hổ Độn vốn được dùng để xác định Can của tháng vì tháng Dần (tháng 1 âm) khởi đầu chu kì.)

 

Một vài ví dụ cụ thể…

 

Ví dụ 1:

Người sinh năm Mậu hay Quý khởi ở cung Giáp Dần. Tức là, nếu cung Mệnh ở Ngọ thì từ Giáp Dần đi tiếp gặp Ngọ (theo lộ trình phía trên) sẽ lấy theo Ngũ Hành Nạp Âm của Mậu Ngọ là Hoả (tra trên bảng 60 Hoa Giáp). Hành Hoả nên sẽ là Lục Cục. Hoặc tra theo bảng Can tháng của Vân Đằng Thái Thứ Lang, cung Ngọ thì tra theo tháng Ngọ cũng sẽ được kết quả là Mậu Ngọ.

 

Ví dụ 2:

Người sinh năm Đinh hay Nhâm khởi ở cung Nhâm Dần:

– Nếu cung Mệnh ở Tí thì từ Nhâm Dần đi tiếp gặp Tí (theo lộ trình phía trên) thì lấy theo Ngũ Hành Nạp Âm của Nhâm Tí là Mộc (tra trên bảng 60 Hoa Giáp). Hành Mộc nên sẽ là Tam Cục. Hoặc tra theo bảng Can tháng của Vân Đằng Thái Thứ Lang, cung Tí thì tra theo tháng Tí cũng sẽ được kết quả là Nhâm Tí.

– Còn nếu cung Mệnh ở Dần thì lấy luôn Ngũ Hành Nạp Âm của Nhâm Dần. Nhâm Dần hành Kim nên sẽ là Tứ Cục.

 

Như vậy, ta xác định được Ngũ Hành rồi con số Cục sẽ lấy theo hành đó.

 

Tóm lại là:

Can Chi năm sinh cho ra Ngũ Hành Nạp Âm của Mệnh.

Can Chi cung Mệnh cho ra Ngũ Hành Nạp Âm của Cục.

 

Vậy con số Cục lấy từ đâu?

Tại sao Thủy luôn là 2, Mộc luôn là 3, Tứ luôn là 4…?

Tại sao Thủy là 2 chứ không phải là 1-6 theo như Hà Đồ?

 

Vậy thì, ta lại phải hỏi lí do của Ngũ Hành Nạp Âm… một ẩn số đã thất truyền… Nhưng dù là gì thì đó cũng là sự quy ước dựa trên chiêm nghiệm mà người xưa đã đúc kết. Ngay cả những con số Hà Đồ cũng vậy. Nếu đã là quy ước, tại sao lại cho rằng Cục số phải lấy theo Hà Đồ mới là đúng?… Rồi thì Hà Đồ có trước hay Hoa Giáp có trước? Phải theo cái nào? Thật ra, mỗi thứ có mục đích của riêng nó… Bất kì con số nào cũng không đại diện cho chân lí tuyệt đối. Mọi quy ước đều chỉ ứng dụng trong phạm vi mục đích của mình.

 

Hà Đồ lấy Thổ làm trọng tâm. Vậy thì chu kì sinh hoá và phát triển vô tận là các dãy số +5 với 5 dãy:

Dãy 1: 1, 6, 11, 16…

Dãy 2: 2, 7, 12, 17…

Dãy 3: 3, 8, 13, 18…

Dãy 4: 4, 9, 14, 19…

Dãy 5: 5, 10, 15, 20…

Tương ứng với Thổ Cục.

 

Còn nếu lấy Thủy làm trọng. Vậy thì chu kì +2 với 2 dãy:

Dãy 1: 1, 3, 5, 7, 9, 11, 13, 15…

Dãy 2: 2, 4, 6, 8, 10, 12, 14, 16…

 

Còn nếu lấy Mộc làm trọng. Vậy thì chu kì +3 với 3 dãy:

Dãy 1: 1, 4, 7, 10, 13, 16…

Dãy 2: 2, 5, 8, 11, 14, 17…

Dãy 3: 3, 6, 9, 12, 15, 18…

 

Lấy Kim làm trọng như đã phân tích phía trên…

Lấy Hoả làm trọng thì cũng như vậy…

 

* Tại sao lại có Tứ Sinh, Tứ Chính, Tứ Mộ?

 

12 cung Địa Chi chia cắt thành 4 mùa Xuân (Mộc), Hạ (Hoả), Thu (Kim), Đông (Thủy) và các tháng giao mùa (Thổ). Đây là sự thể hiện của vật chất trên Trái Đất khi quay quanh Mặt Trời.

 

Người xưa làm nông nghiệp theo mùa vụ, nên họ bổ sung hệ thống “tiết khí” để đồng bộ thời gian với chu kì mùa màng. Cho nên âm lịch hiện tại đã được tùy biến theo 24 tiết khí. Và “kiệt tác” này giúp con người sống thuận theo tự nhiên và mùa vụ.

 

Gọi là Tứ Sinh (Dần Thân Tị Hợi) vì đó là các tháng bắt đầu một chu kì phát triển (của một mùa):

– Lập Xuân luôn ở Dần, thời điểm bắt đầu mùa xuân.

– Lập Hạ luôn ở Tị, thời điểm bắt đầu mùa hạ.

– Lập Thu luôn ở Thân, thời điểm bắt đầu mùa thu.

– Lập Đông luôn ở Hợi, thời điểm bắt đầu mùa đông.

 

Gọi là Tứ Chính (Tí Ngọ Mão Dậu) vì đó là giai đoạn đắc chính (tính chất được phát huy rõ rệt nhất, hoặc thường hiểu là 4 hướng chính trên Hà Đồ):

– Xuân Phân luôn ở Mão, thời điểm giữa mùa xuân.

– Hạ Chí luôn ở Ngọ, thời điểm giữa mùa hạ.

– Thu Phân luôn ở Dậu, thời điểm giữa mùa thu.

– Đông Chí luôn ở Tí, thời điểm giữa mùa đông.

 

Gọi là Tứ Mộ (Thìn Tuất Sửu Mùi) vì đó là giai đoạn suy tàn của một chu kì:

– Tháng Thìn: từ Thanh Minh đến cuối Xuân (trước Lập Hạ).

– Tháng Mùi: từ Tiểu Thử đến cuối Hạ (trước Lập Thu).

– Tháng Tuất: từ Hàn Lộ đến cuối Thu (trước Lập Đông).

– Tháng Sửu: từ Tiểu Hàn đến cuối Đông (trước Lập Xuân).

 

Vòng Trưởng Sinh an từ Cục luôn khởi từ Tứ Sinh (Dần Thân Tị Hợi)…

 

(Các sách thường phiên âm là Trường Sinh (hoặc Tràng Sinh), thật ra ở đây có nghĩa là “phát triển đủ và lớn lên”, chứ không phải là “sống lâu”, cho nên phải đọc là “Trưởng Sinh”.)

 

Như vậy là, sự luân chuyển theo chu kì không gian và tiết khí tạo ra một vòng lặp chi phối mọi tầng mức của sự sống. Chuỗi 60 Hoa Giáp và Ngũ Hành Nạp Âm hay Vòng Trưởng Sinh là sự cụ thể hoá của nhịp điệu không gian đó lên vòng đời của vạn vật. Những quy luật toán học được ứng dụng lại có sự đồng vọng phần nào với sự vận động và âm luật tinh vi của vũ trụ…

 

* Tại sao chính tinh mới có hoá khí?

 

Phụ tinh chỉ mang một yếu tố đơn lẻ là Địa Chi (vòng Thái Tuế và các sao tháng, ngày, giờ) hoặc Thiên Can (vòng Lộc Tồn).

 

Chỉ có chính tinh mới được an bằng Cục (hàm chứa đủ cả năm, tháng, ngày, giờ), nên chính tinh là kết quả của sự thai nghén giữa cả Thiên và Địa. Điều này khiến chính tinh trở thành nòng cốt. Cho nên Tứ Hoá chỉ có thể là hoá khí của chính tinh. Vì Tứ Hoá được sinh ra nhờ có “khí trời” (Thiên) tác động lên “hình đất” (Địa) mà sinh ra biến hoá.

 

Trong hệ chuẩn, chỉ chính tinh được hoá khí. Nhưng không rõ tại sao về sau Can năm làm cho cả phụ tinh (Xương Khúc Tả Hữu) cũng hoá khí. Tứ Hoá cốt chỉ dành cho chính tinh, nhưng một số phái về sau vì muốn làm giàu lá số đã tự thêm “Tứ Hoá phụ tinh”.

 

Hơn nữa, 4 phụ tinh này an bằng tháng và giờ, tức là gắn với chu kì nhỏ hơn, nên cũng không đủ tầm ảnh hưởng để hoá khí trên bình diện Can năm.

 

Việc mở rộng ra phụ tinh là cải biên thời cận hiện đại do một số trường phái muốn tăng tính diễn giải. Thói quen này phổ biến trong dân gian, nhưng không có trong giáo lí cổ điển.

 

* Tại sao chính tinh có Ngũ Hành?

 

Tứ Hoá tượng trưng cho 4 mùa biến hoá trong một năm. Tứ Hoá sinh ra từ Thiên Can (khí trời) của 1 năm làm cho vạn vật dưới đất biến hoá theo 4 mùa. Mặt đất khi tiếp nhận khí trời sẽ sinh ra các hiện tượng: sinh sôi (Lộc), cường thịnh (Quyền), thành tựu (Khoa), suy tàn (Kị). Các chính tinh có vai trò biểu hiện sự biến hoá đó.

 

Hầu hết các chính tinh mới có hoá khí. Nên mỗi chính tinh cũng được gán cho một Thiên Can. Và Ngũ Hành của chính tinh cũng được lấy từ Ngũ Hành Thiên Can. Âm Dương của chính tinh cũng được lấy từ Âm Dương của Thiên Can.

 

Ta có:

Tử Vi – Kỉ – Thổ – Âm

Thiên Cơ – Ất – Mộc – Âm

Thái Dương – Bính – Hoả – Dương

Vũ Khúc – Tân – Kim – Âm

Thiên Đồng – Nhâm – Thủy – Dương

Liêm Trinh – Đinh – Hoả – Âm

Thiên Phủ – Mậu – Thổ – Dương

Thái Âm – Quý – Thủy – Âm

Tham Lang – Quý – Thủy – Âm

Cự Môn – Quý – Thủy – Âm

Thiên Tướng – Nhâm – Thủy – Dương

Thiên Lương – Ất – Mộc – Âm

Thất Sát – Tân – Kim – Âm

Phá Quân – Quý – Thủy – Âm

 

Như vậy: 6 Thủy, 2 Thổ, 2 Hoả, 2 Mộc, 2 Kim. Ngoài ra, trong quá trình ứng dụng còn sản sinh ra thêm các hành đới.

 

* Ngũ Hành chỉ là công cụ để diễn đạt mang tính tương đối?

 

Tử Vi ứng dụng Ngũ Hành như một công cụ giúp minh hoạ số mệnh con người. Việc hiểu chúng như 5 nguyên tố chỉ mang tính tượng hình. Ngũ Hành là công cụ để minh hoạ giúp cho việc diễn đạt, nó mang tính tương đối, đúng ở đây lại có thể không đúng ở kia, nên không thể áp dụng máy móc và suy diễn bừa bãi trong bất kì hoàn cảnh nào.

 

Khi luận đoán không phải cứ thấy bí là đem vật lí cơ học ra luận, sai bét. Và cũng đừng ai đem bảng tuần hoàn hoá học vào bắt bẻ cách diễn đạt tượng hình của người xưa.

 

Vài ví dụ về ứng dụng Ngũ Hành:

1/ “Tử Vi cư Ngọ, vô sát tinh, vị chí tam công”: Cung Ngọ mang hành Hoả. Sao Tử Vi mang hành Thổ. Theo nguyên lí Ngũ Hành, Hoả sinh Thổ. Cung Địa Chi sinh xuất cho chính tinh toạ thủ, giúp Tử Vi trở thành miếu vượng. Nhờ vậy, đương số phát huy tối đa tư chất lãnh đạo, dễ dàng đạt được vị trí tôn quý.

2/ “Cự Nhật Dần Thân, quan phong tam đại”: Tại cung Dần mang hành Mộc, Cự Môn mang hành Thủy và Thái Dương mang hành Hoả. Ta có chuỗi tương sinh liên hoàn: Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hoả. Cự Môn dung dưỡng mảnh đất Dần, rồi cung Dần lại tiếp lửa cho Thái Dương rực rỡ toả sáng. Sự tương tác Ngũ Hành này làm tiêu tan tính ám muội của Cự Môn, tạo nên một cách cục quyền quý.

3/ “Tham Ngộ Dương Đà cư Hợi Tí, danh vi phiếm thủy đào hoa”: Tham Lang hành Thủy. Kình Đà hành Kim. Cung Hợi, Tí hành Thủy. Tham Lang vốn dĩ là sao đào hoa mang nhiều Thủy tính. Khi toạ lạc tại hai cung Hợi và Tí (đều thuộc hành Thủy), yếu tố Thủy được nhân lên gấp bội. Cách cục này lại hội họp sát tinh Kình Đà thuộc hành Kim. Theo nguyên lí Kim sinh Thủy, hai phụ tinh này không những không khắc chế được mà còn liên tục bơm thêm năng lượng, tiếp thêm nước cho cung vị vốn đã ngập lụt. Đây gọi là cách hoa đào trôi trên dòng nước lớn, tượng trưng cho sự buông thả, dâm đãng, dễ sa ngã vào tửu sắc và có một cuộc đời trôi nổi, bấp bênh.

 

Ngũ Hành là công cụ đắc dụng trong việc phân tích, lí giải các mối quan hệ phức tạp giữa các sao, cung và vận hạn. Nhưng luận Ngũ Hành trong một số tình huống thì đúng, còn trong tình huống sao khác, cung khác thì luận theo Ngũ Hành lại không đúng. Vì sao? Vì đây là kinh nghiệm đúc kết và gán biểu tượng vào.

 

* Một số nhận định về 60 Hoa Giáp:

 

Phép ghép Can Chi để có Mệnh Nạp Âm chính là biểu tượng của sự giao hoà giữa Trời và Đất. Người xưa quan niệm rằng, con người hay bất cứ sự vật nào sinh ra trong một năm cụ thể đều là “kết tinh” của năng lượng trời (Can) và đất (Chi) của năm đó. Mệnh Nạp Âm chính là kết quả của sự nhào nặn này, tạo ra đặc tính thực sự của sự vật (khí hoá thành hình).

 

Nếu quan sát kĩ ta sẽ phát hiện ra một quy luật lặp lại của chu kì 60 năm. Danh sách này thực chất chia làm hai nửa giống hệt nhau về Ngũ Hành.

 

Sau mỗi 30 năm (tương đương 15 cặp Can Chi), Ngũ Hành sẽ lặp lại chu kì ban đầu, ví dụ:

 

Cặp số 1 (Giáp Tí) là hành Kim

→ Cộng thêm 30 năm, cặp số 31 (Giáp Ngọ) cũng là hành Kim.

 

Cặp số 13 (Bính Tí) là hành Thủy

→ Cộng thêm 30 năm, cặp số 43 (Bính Ngọ) cũng là hành Thủy.

 

Tức là, một cặp số bất kì và cặp số cộng thêm 30 đơn vị sẽ luôn có chung hành.

 

Nếu thứ tự 60 cặp Can Chi được xếp thành 1 vòng tròn thì… Ví dụ:

Ô 1-2 là mệnh Kim, đối diện qua tâm là ô 31-32 cũng là mệnh Kim.

Ô 29-30 là mệnh Thủy, đối diện qua tâm là ô 59-60 cũng là mệnh Thủy.

 

Cũng vòng tròn đó, ta phát hiện ra rằng cứ nối 3 điểm cách đều nhau (cách nhau 10 đơn vị) thì chúng luôn rơi vào một bộ 3 có tính chất tương sinh hoặc tương khắc.

 

Cụ thể là:

Kim > Thủy > Mộc

Thủy ≠ Hoả ≠ Kim

Thổ ≠ Thủy ≠ Hoả

Mộc > Hoả > Thổ

Kim ≠ Mộc ≠ Thổ

 

Tất cả các “tam giác đều” nối 3 điểm trên vòng tròn đều thuộc về 1 trong 5 kiểu bộ 3 nêu trên.

 

Nạp Âm giúp cụ thể hoá Ngũ Hành. Ví dụ, không chỉ nói chung chung là “Mệnh Thủy” mà sẽ là “Giản Hạ Thủy” (nước khe suối) hay “Đại Hải Thủy” (nước biển lớn), từ đó phản ánh tính cách và số mệnh con người một cách cụ thể hơn.

 

“Ngũ Hành Nạp Âm” (tiếp nạp âm thanh) là hệ thống phân loại tinh tế hơn Ngũ Hành cơ bản, dùng để mô tả các biểu hiện cụ thể của năng lượng trong 60 cặp Can Chi.

 

Vũ trụ là một bản hoà tấu âm thanh. Người xưa cho rằng đời sống của con người và vũ trụ là một sự tổng hợp, trong đó sự vận động của vũ trụ giống như một bản nhạc có đủ các âm giọng. Ngũ Hành Nạp Âm phản ánh cái “động” của vũ trụ thông qua các âm thanh (âm), tượng trưng cho các trạng thái khác nhau của khí lực.

 

Việc Nạp Âm (gán âm thanh vào Ngũ Hành) là cách để biểu đạt phẩm chất siêu hình và quy luật biến hoá của vạn vật.

 

Quy luật Nạp Âm phản ánh tiết điệu, một định luật quan trọng nhất của tạo hoá, được ví như lẽ sống của vạn vật. Mọi sự vật đều biến chuyển có điều tiết, nhịp nhàng như nhịp đập của quả tim hay hơi thở của vũ trụ.

 

Việc kết hợp Ngũ Hành với âm thanh thể hiện sự tương quan vô hình giữa thiên nhiên và nhân sinh, dựa trên quan niệm “Thiên Địa Nhân hợp nhất”.

 

1-2: Giáp Tí, Ất Sửu: Hải Trung Kim (Kim)

3-4: Bính Dần, Đinh Mão: Lư Trung Hoả (Hoả)

5-6: Mậu Thìn, Kỉ Tị: Đại Lâm Mộc (Mộc)

7-8: Canh Ngọ, Tân Mùi: Lộ Bàng Thổ (Thổ)

9-10: Nhâm Thân, Quý Dậu: Kiếm Phong Kim (Kim)

11-12: Giáp Tuất, Ất Hợi: Sơn Đầu Hoả (Hoả)

13-14: Bính Tí, Đinh Sửu: Giản Hạ Thủy (Thủy)

15-16: Mậu Dần, Kỉ Mão: Thành Đầu Thổ (Thổ)

17-18: Canh Thìn, Tân Tị: Bạch Lạp Kim (Kim)

19-20: Nhâm Ngọ, Quý Mùi: Dương Liễu Mộc (Mộc)

21-22: Giáp Thân, Ất Dậu: Tuyền Trung Thủy (Thủy)

23-24: Bính Tuất, Đinh Hợi: Ốc Thượng Thổ (Thổ)

25-26: Mậu Tí, Kỉ Sửu: Tích Lịch Hoả (Hoả)

27-28: Canh Dần, Tân Mão: Tùng Bách Mộc (Mộc)

29-30: Nhâm Thìn, Quý Tị: Trường Lưu Thủy (Thủy)

31-32: Giáp Ngọ, Ất Mùi: Sa Trung Kim (Kim)

33-34: Bính Thân, Đinh Dậu: Sơn Hạ Hoả (Hoả)

35-36: Mậu Tuất, Kỉ Hợi: Bình Địa Mộc (Mộc)

37-38: Canh Tí, Tân Sửu: Bích Thượng Thổ (Thổ)

39-40: Nhâm Dần, Quý Mão: Kim Bạch Kim (Kim)

41-42: Giáp Thìn, Ất Tị: Phúc Đăng Hoả (Hoả)

43-44: Bính Ngọ, Đinh Mùi: Thiên Hà Thủy (Thủy)

45-46: Mậu Thân, Kỉ Dậu: Đại Trạch Thổ (Thổ)

47-48: Canh Tuất, Tân Hợi: Thoa Xuyến Kim (Kim)

49-50: Nhâm Tí, Quý Sửu: Tang Đố Mộc (Mộc)

51-52: Giáp Dần, Ất Mão: Đại Khê Thủy (Thủy)

53-54: Bính Thìn, Đinh Tị: Sa Trung Thổ (Thổ)

55-56: Mậu Ngọ, Kỉ Mùi: Thiên Thượng Hoả (Hoả)

57-58: Canh Thân, Tân Dậu: Thạch Lựu Mộc (Mộc)

59-60: Nhâm Tuất, Quý Hợi: Đại Hải Thủy (Thủy)

Chia sẻ:
Facebook
Bài viết liên quan

Giác quan của con người là những bộ lọc hữu hạn. Thị lực, thính lực, xúc giác,… đều có ngưỡng trên và ngưỡng dưới. Thực tại mà ta trải nghiệm hàng ngày chỉ là một phiên bản rút gọn của thế giới khách quan, được chọn lọc và giới hạn...

Có phải cứ nhiều chi tiết mới là giàu có? Tối giản không phải là nghèo nàn, mà là năng lực nhận ra cái cốt lõi.   Tối giản không đơn thuần là loại bỏ để trở nên trống rỗng. Một căn phòng trống trơn không phải là tối giản...

Chủ nghĩa Siêu thực chỉ ra một con đường tiếp cận những lĩnh vực mà lý trí đã bỏ qua: thế giới của giấc mơ và vô thức. Đó là sự hiểu biết toàn diện hơn về bản thân và hiện thực, vượt ra ngoài giới hạn của lý trí....

Nghệ thuật từng được dùng để chỉ sự xuất sắc trong một công việc: nghệ thuật đóng giày, nghệ thuật rèn đúc,… Nhưng khi đã làm tốt nhất việc đó rồi, cái ta muốn tiếp theo là một sự đổi mới, và trong vòng lặp của sự phát triển, nghệ...

NỔI BẬT
Theo dõi chúng tôi trên MXH:
Liên hệ:
contact.hbth@gmail.com
© 2023 hatbuitamhon. All rights reserved.
Scroll to Top